THÀNH CÂU THI NA - ĐỨC PHẬT NHẬP ĐẠI BÁT NIẾT BÀN

Đức Phật nhập Niết bàn

✅Theo LỊCH SỬ và KINH ĐIỂN để lại, sau khi đản sanh tại Vườn Lâm Tì Ni:
(👉Xin xem thêm về sự kiện Thái Tử đản sanh)
✅Thành đạo tại Bồ Đề Đạo Tràng
(👉Xin xem thêm về sự kiện Thái Tử Thành đạo ):
✅Thuyết Pháp lần đầu tại Vườn Lộc Uyển thành ba La Nại (👉Xin xem thêm về sự kiện Đức Phật sơ chuyển Pháp Luân ):
✅Đức Phật đã nhập Niết bàn tại Thành Câu Thi Na
📘: Vào đây để tìm hiểu về Cuộc Từ Bỏ Vĩ đại cuối cùng trích từ Đức Phật Lịch Sử (bản PDF)

BỮA THỌ THỰC CUỐI CÙNG

✅ Sau khi kết thúc mùa an cư cuối cùng tại thành Tỳ-xá-ly (Vaisali), Đức Thế Tôn từ biệt chư Tỳ-kheo TẠI KESARYA, trao lại bình bát cho Tỳ Xá Li rồi chia tay những người cuối cùng tại con sông Galdak (Một số tài liệu nói rằng con sông này do chính Đức Phật tạo ra), là biên giới chia cắt tự nhiên giữa vương quốc Bạt Kỳ (Vajji) và Ma La (Malla) ngày nay là con sông vẫn mang tên Galdak (Phía thượng nguồn sát biên giới Nepal có tên là Anoma nơi Thái tử xuất gia. (📘vào đây xem thêm phần Thái Tử xuất gia bên dòng Anoma)
(📷 Vào đây xem ảnh con sông Galdak buổi hoàng hôn)

Qua khỏi con sông, Đức Phật cùng Ngài Anan tiếp tục đi về câu thi Na, đến Pāvā - nhà cư sĩ Thuần-đà. (📍vào đây để đến nhà ông Thuần đà trên bản đồ google map) Ông là một thợ rèn thuần thành. Với lòng chí thành, ông dâng lên Đức Phật và Tăng đoàn bữa cúng dường “Sūkaramaddava” - mà sau này Phật giáo phát triển gọi Pháp cúng dường cao quí. Có nhiều diễn giải khác nhau về bữa thọ thực cuối cùng này, ban biên tập xin chọn theo nghĩa sát với lịch sử nhất, cụ thể:
• “Sūkaramaddava” tiếng Ấn cổ là một món ăn mềm đặc biệt – đúng tên món ăn mà ông Thuần-đà thành tâm dâng cúng Đức Phật trong bữa cúng dường cuối cùng. Về mặt ngôn ngữ gốc: từ “maddava” có nghĩa là “mềm / dễ ăn”, còn “sūkāra” là “heo” nên nghĩa đen thiên về hiểu thành “món thịt heo mềm”.
• Đức Phật thọ nhận vì tôn trọng lòng thành – Khi dùng món ăn này, Đức Phật rất nhạy cảm do thân thể Ngài đã yếu, món ăn cũng không ổn, có lẽ Ngài đã nhận thấy vấn đề này nhưng Ngài vẫn thọ thực với tất cả sự trân trọng và lòng từ bi, để không làm tổn thương tâm chí thành của người cúng dường, đây cũng là lí do mà Ngài:
• Dặn A-nan chôn bỏ phần còn lại – Sau khi thọ dụng, Đức Phật dạy Tôn giả A-nan hãy chôn phần còn lại dưới đất, không để ai khác dùng, để tránh gây hại cho đại chúng.
• Khẳng định công đức để tôn vinh và bảo vệ ông Thuần-đà vì lòng thành kính của ông: Đức Phật lo rằng mọi người sẽ trách cứ ông Thuần-đà, nên Ngài tuyên bố: “Có hai bữa cúng dường tối thắng: bữa đầu tiên sau khi Như Lai thành đạo, và bữa cuối cùng trước khi Như Lai nhập Niết-bàn.” Nhờ vậy, công đức cúng dường của ông Thuần-đà được xác định là tối thượng, xuất phát từ tâm chân thật và kính trọng sâu xa.
Từ thời vua A Dục, Ngài đã cho dựng những tháp tưởng niệm địa điểm thánh tích này
(📷 Vào đây xem ảnh bảng xác định di tích tháp nhà Ngài Thuần Đà được dựng từ thời vua A Dục)
(📷 Vào đây xem ảnh di tích tháp nhà Ngài Thuần Đà được dựng từ thời vua A Dục)
(📷 Vào đây xem ảnh di tích tháp nhà Ngài Thuần Đà được dựng từ thời vua A Dục).
(📷 Vào đây xem ảnh di tích tháp nhà Ngài Thuần Đà được dựng từ thời vua A Dục).

LẦN TẨY TRẦN CUỐI CÙNG

✅ Sau khi thọ bữa cúng dường cuối cùng tại Pāvā - nhà cư sĩ Thuần-đà, Đức Thế Tôn cùng Tôn giả A-nan và chúng đệ tử tiếp tục hành trình về Kusinārā. Trên đường đi, Ngài dừng lại bên bờ sông Kakuttha (Hy Liên). Tại đây, Đức Thế Tôn bước xuống dòng nước mát, tự mình tắm gội, uống nước để thanh lọc thân tâm. Sau đó, Ngài lên bờ, đi vào rừng xoài gần đó và dạy Tôn giả Cundaka:
“Này Cundaka, hãy gấp chiếc y thượng của Như Lai làm bốn, trải xuống nơi này. Thân Như Lai mỏi mệt, muốn nghỉ lại chốc lát.” rồi Ngài cạo tóc, cạo râu, thay y áo mới, rồi an tĩnh nghỉ ngơi, chuẩn bị cho những bước cuối cùng của hành trình trở về Niết-bàn.
(📍vào đây để đến bến sông Hy Liên xưa trên bản đồ google map)
(📷 Vào đây xem ảnh bảng xác định di tích bến sông)
(📷 Vào đây xem ảnh di tích bến sông Hy Liên)
(📷 Vào đây xem ảnh di tích bến sông Hy Liên)
(📷 Vào đây xem ảnh di tích bến sông Hy Liên)
Sau lần tẩy trần cuối cùng này, Đức Phật cùng Tăng đoàn tiếp tục đi về phía Câu Thi Na. Khi đến làng Câu-thi-na (Kusinara) của bộ tộc Malla, nơi bờ bên kia sông Hiranyavati, Đức Thế Tôn biết rằng thời khắc Niết-bàn của Ngài đã đến gần. Ngài dạy Tôn giả A-nan chuẩn bị một chỗ nằm, đầu hướng về phương Bắc, giữa hai cây Sa-la song thọ. Nghe vậy, Tôn giả A-nan, vị thị giả đã hầu cận Ngài suốt hai mươi năm, vô cùng đau xót. Đức Thế Tôn liền an ủi: “Này A-nan, chớ nên sầu não. Tánh của các pháp vốn vô thường, hễ có sinh ắt có diệt. Vạn hữu đều mang trong mình mầm mống đoạn diệt. Nay Ta cũng đã già yếu, tuổi đã tám mươi, hành trình trụ thế sắp viên mãn. Cũng như một cỗ xe cũ kỹ chỉ có thể vận hành nhờ sự sửa chữa và chăm sóc thêm, thân tứ đại này của Như Lai cũng chỉ còn duy trì được nhờ nhiều sự chăm sóc. Đó là lẽ tự nhiên.” Địa điểm này hiện trở thành công viên di sản cho cả vùng:
(📍vào đây để đến bến sông Hy Liên trước khi Phật Niết bàn trên bản đồ google map)
(📷 Vào đây xem ảnh bảng xác định di tích bến sông)
(📷 Vào đây xem ảnh di tích bến sông)
(📷 Vào đây xem ảnh di tích bến sông)
(📷 Vào đây xem ảnh công viên di tích bến sông)
(📷 Vào đây xem ảnh công viên di tích bến sông)

ĐỨC PHẬT NHẬP NIẾT BÀN

✅Ngay cả khi đã sắp yên vị giữa hai cây Sala, Trước giờ phút Niết-bàn, Đức Thế Tôn vẫn mở rộng cửa từ bi để độ sinh. Người đệ tử cuối cùng là Tu-bạt-đà-la (Subhadda), một đạo sĩ già. Nghe tin Đức Phật sắp viên tịch, ông liền đến xin yết kiến. Tôn giả A-nan lo ngại Ngài mệt nên định ngăn lại, nhưng Đức Phật bảo: “Thôi được, hãy để ông ấy vào. Dù ông ta là người cuối cùng, cũng đáng được nghe Chánh pháp.”Ngài giảng cho Tu-bạt-đà-la về Bát Chánh Đạo là con đường duy nhất đưa đến giải thoát. Ngay trong đêm ấy, Tu-bạt-đà-la chứng quả A-la-hán, trở thành vị đệ tử sau cùng của Đức Phật.
Trước khi Niết bàn, Đức Phật dạy Anan những điều cần ghi nhớ sau cùng:
Những lời dạy cuối cùng ✨Này A Nan, chỗ nương tựa của giáo đoàn là Chánh Pháp, không phải ở một vị giáo chủ – các Thầy đừng cất công tìm một chỗ nương tựa nào khác ngoài Chánh Pháp. Mỗi người phải tự lấy Chánh Pháp làm nơi nương tựa, phải sống theo Chánh Pháp. Phải biết sống theo tự tâm thanh tịnh của chính mình. Này A Nan, Phật, Pháp, Tăng đều có sẵn trong mỗi người chúng ta; Khả năng giác ngộ là Phật, Pháp môn tu học là Pháp, Tinh tấn thực hành là Tăng. Không ai có thể cướp giật Phật, Pháp, Tăng ra khỏi tâm can quý Thầy được. Dù trời đất có nghiêng ngả, tựa nương Tam Bảo nơi mỗi người vẫn còn nguyên vẹn. Đó là nơi nương tựa an ổn nhất của quý Thầy. Vị khất sĩ trở về an trú trong chánh niệm, quán chiếu thân thể, cảm thọ, tâm ý và đối tượng của tâm ý – đó là vị khất sĩ đang ở nơi nương tựa vững chắc nhất.✨
Ngày nay, Phật tích này ngày càng được trùng tu, hiện quần thể bao gồm:
- Chùa Niết bàn hình ống duy nhất khác biệt các lối kiến trúc chùa khác, bên trong an trí tượng Phật Niết bàn
- Đằng sau Chùa Niết bàn là Tháp Xá lợi mà nền tháp đầu tiên được xây dựng từ thời vua A Dục
- Sau tháp Xá Lợi là Tháp Anan, địa điểm được cho chính xác là nơi Đức Phật nhập Niết Bàn giữa hai cây sala
(📍vào đây để đến tháp Anan, địa điểm được cho là nơi Đức Phật nhập Niết Bàn giữa hai cây sala trên bản đồ google map)
(📷 Vào đây xem ảnh Tháp Anan nằm ngay sau Tháp Xá lợi nơi Phật nhập Niết Bàn)
(📷 Vào đây xem ảnh lối chính vào chùa Niết Bàn)
(📷 Vào đây xem ảnh tượng Phật nằm trong chùa Niết bàn)
(📷 Vào đây xem ảnh tượng Phật nằm trong chùa Niết bàn)
(📷 Vào đây xem ảnh tượng Phật nằm trong chùa Niết bàn)
(📷 Vào đây xem ảnh tượng Ngài Anan phủ phục buồn rầu trước Phật Niết bàn)
(📷 Vào đây xem ảnh chùa Niết bàn từ hướng đông bắc)
(📷 Vào đây xem ảnh chùa Niết bàn từ hướng tây bắc)
(📷 Vào đây xem ảnh chùa Niết bàn từ hướng Nam)
(📷 Vào đây xem ảnh chùa Niết bàn từ hướng tây nam)
(📷 Vào đây xem ảnh chùa Niết bàn từ hướng tây lúc bình minh)
(📷 Vào đây xem ảnh chùa Niết bàn từ hướng tây với 2 cây sala hai bên chùa Niết bàn)
(📷 Vào đây xem ảnh các di tích nền móng tháp Phật, tự viện trong khuôn viên Đền Đại Bát Niết Bàn)
(📷 Vào đây xem ảnh các di tích nền móng tháp Phật, tự viện trong khuôn viên Đền Đại Bát Niết Bàn)
(📷 Vào đây xem ảnh các di tích nền móng tháp Phật, tự viện trong khuôn viên Đền Đại Bát Niết Bàn)
✅Để tái tạo những khu rừng Sala quanh Câu Thi Na, nhà nước Ấn độ đã ccổ vũ để Đức đạt lai lạt ma 14 bảo trợ cho việc trồng lại những khu rừng cây Sala gần khu vực Đức Phật niết bàn. Vào tháng 4 hàng năm, những rừng Sala này vẫn nở hoa
(📷 Vào đây xem ảnh đường đi giữa rừng Sala)
(📷 Vào đây xem ảnh rừng Sala)
(📷 Vào đây xem ảnh cây Sala nở hoa)
(📷 Vào đây xem ảnh Hoa của cây Sala vào tháng 4 hàng năm)

ĐẠI LỄ TRÀ TỲ KIM THÂN ĐỨC PHẬT

✅7 ngày sau khi Niết-bàn, Kim thân Đức Thế Tôn được mang đến bên bờ sông, nơi Ngài dừng lại trước ki vào rừng Sala để làm lễ Trà Tỳ (Hỏa táng). Địa điểm này được vua A Dục dựng tháp tưởng niêm và liên tục trùng tu cho đến ngày nay
(📍vào đây để đến tháp Trà Tỳ, nơi làm lễ hỏa táng Kim Thân Đức Thế Tôn trên bản đồ google map)
(📷 Vào đây xem ảnh Tháp Trà Tỳ từ hướng Đông)
(📷 Vào đây xem ảnh 8 tháp nhỏ sát Tháp Trà Tỳ do 8 nước nhận xá Lợi Phật xây)
(📷 Vào đây xem ảnh Tháp Trà Tỳ từ hướng Đông với nền của 1 tự viện)
(📷 Vào đây xem ảnh Tháp Trà Tỳ từ hướng Tây, ũng là hướng ổng ghính ủa tháp Trà Tỳ)
(📷 Vào đây xem ảnh Tháp Trà Tỳ từ hướng Tây)
(📷 Vào đây xem ảnh gạch xây Tháp Trà Tỳ)
(📷 Vào đây xem ảnh cận cảnh gạch xây Tháp Trà Tỳ)

PHÂN CHIA XÁ LỢI NHỤC THÂN ĐỨC THẾ TÔN

✅Sau khi Phật nhập Niết-bàn 7 ngày, Tôn giả Ma-ha Ca-diếp (Mahākassapa) cùng với 500 vị Tỳ-kheo đến đảnh lễ Phật lần cuối. Sau đó, kim thân Phật mới được làm lễ hỏa táng (trà tỳ). Sau lễ trà-tỳ, dân Malla ở Kusinārā muốn giữ toàn bộ tro Xá lợi vì cho rằng Đức Phật nhập Niết bàn tại đây là ó ý cho họ và họ toàn quyền sở hữu xá lợi. Lúc này bảy vương quốc khác đều cử sứ giả đến đòi phần, dẫn đến tranh chấp và nguy cơ chiến tranh là hiện hữu. Lúc này, người có vai trò đặc biệt hòa giải mâu thuẫn này là 1 vị bà la môn, Ngài Droṇa (Đồ-na, cũng gọi là Do-na). Ngài được tín nhiệm vì ông rất có uy tín, giỏi về nghi lễ nên trở thành trung gian công bằng trong việc phân chia xá lợi. Cưới cùng, Xá lợi Phật được chia làm 8 phần cho các quốc gia tại vườn nhà của Ngài Drona như sau:
1. Vương quốc Magadha (Ma-kiệt-đà, vua A-xà-thế – Ajātasattu)
2. Bộ tộc Licchavī (ở Tỳ-xá-ly, Vesālī)
3. Bộ tộc Sākya (quê Phật, Ca-tỳ-la-vệ, Kapilavatthu)
4.Bộ tộc Bulī (Buli)
5. Bộ tộc Koliya (Koliya – họ ngoại của Phật)
6. Bộ tộc Mallā ở Pāvā
7.Bộ tộc Mallā ở Kusinārā (nơi Phật nhập diệt)
8. Vương quốc Vethadīpa (một đảo nhỏ, dân cũng đến xin)
Ngài Droṇa (Bà-la-môn) xin được giữ cái bình chia Xá lợi để dựng tháp thờ và Dân Moriya ở Pipphalivana đến muộn, xin được phần tro tàn còn lại từ lễ Trà tỳ.
(📍vào đây để đến vườn nhà ngài Bà la Môn Drona, nơi phân chia Xá lợi Phật trên bản đồ google map)
(📷 Vào đây xem ảnh Tên 8 nước được nhận Xá lợi tại vườn nhà Ngài Drona)
(📷 Vào đây xem ảnh toàn cảnh miếu thờ nơi phân chia Xá lợi Phật)
(📷 Vào đây xem ảnh miếu thờ nơi phân chia Xá lợi Phật)
(📷 Vào đây xem ảnh vẫn còn biểu tượng ủa đạo bà La Môn xưa và đạo Hindu ngày bnay tại khu miếu thờ nhà ngài Drona)
(📷 Vào đây xem ảnh vẫn còn biểu tượng của đạo Bà La Môn xưa và đạo Hindu ngày nay tại khu miếu thờ nhà ngài Drona)
✅Dòng họ Thích ca của Đức Phật, cũng tiến hành xây 1 khu điện thờ riêng, thờ Đức Phật với tư cách là 1 người con của dòng họ Thích ngay gần bên nơi Đức Phật nhập Niết bàn
(📍vào đây để đến vị trí dòng họ Thíh ca lập miếu thờ Đứ Phật trên bản đồ google map)
(📷 Vào đây xem ảnh khu đền thờ của dòng họ Thích ca)
(📷 Vào đây xem ảnh khu đền thờ của dòng họ Thích ca)
(📷 Vào đây xem ảnh tượng Đức Phật ngay khi thành đạo bên trong đền thờ của dòng họ Thích ca)
📘 Đọc toàn văn cuốn sách: Đức Phật Lịch Sử (bản PDF)

📥 Tải về bản PDF

🙏 Xin cám ơn quí vị - quay về trang chủ: Quay về trang chủ