BỒ ĐỀ ĐẠO TRÀNG - THÁI TỬ ĐẠI GIÁC NGỘ

Thái Tử đạt quả vị Giác Ngộ dưới cội đại Bồ Đề


Theo LỊCH SỬ và KINH ĐIỂN để lại, sau khi đản sanh tại Vườn Lâm Tì Ni (👉 Xin xem thêm về sự kiện Thái Tử đản sanh ), Thái tử được vua cha Tịnh Phạn nuôi dạy với những vị thầy giỏi nhất lúc bấy giờ. Thái tử thọ học:
📘Học thuyết Bà-la-môn (Vệ Đà - Vedas) do Các Bà-la-môn uyên bác được vua Tịnh Phạn mời đến hoàng cung với các nội dung chính:
o Thế giới do các vị thần tạo ra và cai quản.
o Con người chịu sự chi phối của nghi lễ, cúng tế và định mệnh.
o Phân chia đẳng cấp xã hội (giai cấp): Bà-la-môn, Sát-đế-lị, Phệ-xá, Thủ-đà-la.
Các bài học này đã giúp Ngài nhận thấy sự bất công của xã hội phân chia đẳng cấp và nghi lễ theo "truyền thuyết" nhưng không dẫn đến giải thoát thật s
📘Học thuyết Sa-môn ngoại đạo (triết lý khổ hạnh, vô ngã, hư vô, vật chất, định mệnh...) do Các đạo sĩ Sa-môn thời bấy giờ, tiêu biểu như o Alāra Kālāma (A-la-la-ca-lam) với chủ trương thiền định đạt đến vô sở hữu xứ (vùng không có gì), Thái tử học đến mức ngang hàng thầy, nhưng thấy chưa phải cứu cánh mình mong muốn. Ngài tiếp tục theo học thầy Uddaka Rāmaputta (Uất-đầu-lam-phất) với thiền định đạt đến phi tưởng phi phi tưởng xứ (trạng thái tâm không rõ là còn hay không còn tưởng), Thái tử vẫn thấy đây chưa phải con đường đưa đến chấm dứt khổ đau hoàn toàn. Ngài tiếp tục phương pháp:
📘Học thuyết khổ hạnh ép xác do Các nhóm tu sĩ ngoại đạo tại rừng Uruvela (Ngày nay là khu vực Bồ đề Đạo Tràng) với Chủ trương càng hành hạ thân xác thì càng mau tiêu trừ nghiệp lực và đạt giải thoát khiến ngài thực hành Nhịn ăn, thở ít, ngồi thiền bất động, đỉnh điểm là Ngài dành ra 6 năm cùng 5 anh em nhà Kiều Trần Như khổ hạnh tại hang Khổ hạnh thuộc núi Khổ hạnh (👉Xin xem thêm về 6 năm Thái Tử tu khổ hạnh cùng 5 anh em nhà Kiều trần Như ) ngày nay thuộc về khu vực labur bang Bihar, Ấn độ
(📍 Hang khổ hạnh trên núi Khổ hạnh trên bản đồ google map)

6 NĂM KHỔ HẠNH RỪNG GIÀ

✅Ảnh khu vực núi Khổ hạnh - nơi có hang Khổ hạnh mà Thái Tử cùng 5 anh em nhà Kiều Trần như thực hành Khổ hạnh, nhịn ăn (Mỗi ngày ăn 1 hạt mè, hạt gạo hoặc quả táo...) Nhịn thở và nhịn di chuyển (ngồi thiền định) ảnh Núi Khổ hạnh có hang Khổ hạnh



✅Ngày nay, dân khu vực xung quanh cùng các vị thầy đến từ tây Tạng đầu tư xây dựng rất nhiều công trình tại khu vực này để thờ tự và tìm kiếm sự "cúng dường" của khách hành hương thập phương (📷 vào đây để xem các công trình đang tiếp tục xây dựng khu núi Khổ hạnh)

✅Một ngôi chùa Tây tạng xen lẫn với điện thờ của dân bản địa, trước khi lên hang Khổ hạnh (📷 vào đây để xem cầu thang chùa Tây tạng lên hang Khổ hạnh)

✅Trước cửa hang Khổ hạnh, ngày nay đã được xây tường bít lại và làm cửa ra vào để phân cách với khu vực thuộc chùa Tây tạng (📷 vào đây để xem khu vực cửa hang Khổ hạnh hiện nay)


✅Tượng thờ "Thái Tử Khổ hạnh" bên trong hang (📷 vào đây để xem tượng thờ Thái Tử Khổ hạnh trong hang Khổ hạnh)

✅Trên đỉnh núi Khổ hạnh, vẫn còn tháp tưởng niệm từ thời vua A Dục (Thế kỉ thứ 2 trước công nguuyên) cho dựng lên để lưu giữ di tích Thái tử dành 6 năm khổ hạnh rừng già (📷 vào đây để xem tháp do vua A Dục dựng)

✅Sau 6 năm khổ hạnh cùng 5 anh em nhà Kiều Trần Như, Thái tử nhận thấy Khổ hạnh cực đoan không thể đem đến trí tuệ và sự giải thoát, mà chỉ mang lại sự suy kiệt về thể xác dẫn đến bó buộc về tinh thần. Ngài từ bỏ con đường khổ hạnh cực đoan và đưa đến kết luận

• Không học thuyết nào đưa đến chấm dứt khổ đau hoàn toàn.
• Ngài từ bỏ cả hai cực đoan (dục lạc & khổ hạnh) và hướng đến Trung đạo và Trung đạo là con đường đưa đến giác ngộ và giải thoát – nền tảng của Phật pháp sau này
Chính vì vậy, ngài từ bỏ con đường khổ hạnh, từ bỏ núi Khổ hạnh, theo đường mòn chân núi, vượt qua nhánh đầu trong hai nhánh của con sông đến làng Sujata
(📷 vào đây để xem ảnh đường đi bộ từ đỉnh núi Khổ hạnh dẫn về làng Sujata và Bồ Đề đại Tháp)
Làng Sujata hiện nay vẫn giữ tên là Sujata, thuộc về khu vực Bồ đề Đạo Tràng bang Bihar, Ấn độ
📍(Vị trí làng Sujata hiện nay)
Từ đây, có thể nhìn rõ chân núi của dãy Khổ Hạnh (📷 vào đây để xem ảnh đường đi bộ từ đỉnh núi Khổ hạnh dẫn về làng Sujata và Bồ Đề đại Tháp)

LÀNG SUJATA dưới chân núi Khổ hạnh

✅ Theo LỊCH SỬ và KINH ĐIỂN để lại, sau khi từ bỏ núi Khổ hạnh, Thái tử men theo chân núi, đi về phía làng Sujata. Ngài đã phải lội qua 1 nhánh sông mới đến được ngôi làng. Do thực hành khổ hạnh 6 năm, thân thể ngài suy kiệt và Ngài gần như ngất đi khi qua khỏi nhánh sông, đến 1 gốc cây ven bờ. Từ trang trại bò sữa mà mình sinh sống, mục nữ Sujata (Tu Xà Đa) nhìn thấy 1 vị đạo sĩ gần như kiệt sức bên dòng sông, bà liền mang cúng dường cho vị đạo sĩ bát cháo sữa mà bà vừa làm vào buổi sáng cùng ngày. Sau này, trước khi nhập Niết bàn, trong kinh Đại bát niết bàn có nói đến bát cháo sữa này: **"Này Ānanda, hai bữa ăn mang phước báo lớn nhất, ngang nhau, đó là:Bữa ăn của nàng Sujata trước khi Như Lai chứng Vô Thượng Bồ Đề và bữa ăn cuối cùng của cư sĩ Thuần Đà (Cunda) trước khi Như Lai nhập Niết-bàn.
Mục nữ dâng sữa Sujata cúng dường bát cháo sữa cho Thái tử đang suy kiệt


✅ Ngay tại chỗ này, dân địa phương và khách hành hương đã dựng lên khá nhiều miếu thờ trong cùng 1 ngôi đền mang tên đền thờ Sujata (📷 vào đây để xem miếu thờ Sujata)
✅ Trong miếu thờ, có nhiều điểm thờ, nhưng lâu đời nhất là 1 miếu thờ gồm có 4 nhân vật: 1. Thái Tử; 2. Bà Sujata; 3. Bả chủ trang trại bò sữa và đặc biệt thờ cả con bò (vật cho sữa) (📷 vào đây để xem miếu thờ Sujata)
✅ Sau đó người ta dựng thêm nhiều vị trí thờ tự nữa, nhưng rộng rãi nhất vẫn là miếu hiện nhìn ra sông (📷 vào đây để xem miếu thờ Sujata nhìn ra sông)
✅ Từ thời vua A Dục, ngài đã cho dựng tháp tưởng nhớ tại chính nơi bà Sujata sinh sống:
(📷 vào đây để xem Tháp tưởng niệm nơi bà Sujata sinh sống)
✅Sau khi thọ thực bát cháo sữa, Thái tử quay lại con sông, Ngài thả bình bát xuống sông và khấn nguyện "“Dù thịt nát xương tan, máu khô gân đứt, ta quyết không rời khỏi nơi đây nếu chưa chứng được Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác”. Vị trí này ngày nay có 1 miếu thờ do dân địa phương và phật tử hành hương dựng lên.
(📷 vào đây để xem miếu thờ nơi Thái Tử Thả bình bát khấn nguyện thành đạo)
✅Thấy Thái tử Sĩ Đạt Đa thọ nhận cúng dường, 5 anh em nhà kiều Trần Như liền rời bỏ Thái tử vì cho rằng Ngài không đủ nghị lực theo con đường Khổ hạnh. 1 mình Thái tử lại tiếp tục đi tìm con đường giải thoát về phía Bồ Đề Đạo Tràng. Đến bờ nhánh sông thứ hai trước khi về Bồ Đề Đạo Tràng, có 1 ông lão thuộc làng Sujata đã dâng cúng cho ngài 1 bó hoa cỏ Kusa (dạng cỏ lau ở Việt nam) để Thái tử có thể lót làm chỗ ngồi. Vị trí này hiện nay được xây dựng 1 đền thờ nhỏ gọi là "Kusa Grass temple".
(📷 vào đây để xem miếu thờ nơi Thái Tử nhận cúng dường bó hoa cỏ)
✅ Ngày nay, làng Sujata là 1 trong những ngôi làng hưởng lợi nhiều nhất từ khách hành hương thập phương. Dân trong làng thậm chí còn được ưu đãi vay tiền lãi suất tháp để xây nhà...khiến cả khu vực biến thành phố thị nào nhiệt.
(📷 vào đây để xem đường phố vào làng sujata hiện nay)
✅ Chợ búa khá đông đúc và lộn nhộn, người bán chủ yếu là Nam giới (theo tư tưởng mẫu hệ, người vợ phải có của hồi môn mới đi cưới được chồng. Cưới rồi thì người chồng phải ra ngoài kiếm tiền về cho gia đình) (📷 vào đây để một cửa hàng ở khu chợ gần làng Sujata hiện nay)
✅ Thỉnh thoảng vẫn có 1 quầy hàng do phụ nữ đứng bán, tuy nhiên đây chắc chắn phải là hoàn cảnh đặc biệt chồng đã mất hoặc chồng không có khả năng làm ăn
(📷 vào đây để xem hiếm hoi có 1 cửa hàng do phụ nữ đứng bán hàng)
✅ Tuy vậy, vẫn còn những quang cảnh yên bình với hàng cọ ven cánh đồng ở ngôi làng này (📷 vào đây để xem hàng cọ giữa cánh đồng yên bình)
✅ Sau khi nhận bát cháo sữa và bó hoa cỏ, Thái tử 1 mình đến bờ sông. Sông Ni Liên Thiền Linh thánh hiện nay, thường chỉ có 1 tháng có nước lớn vào mùa mưa lũ là tháng 8
(📷 vào đây để xem ảnh nước sông lên cao, bên kia sông là tháp Đại giác ngộ)
✅ Còn lại, nhất là các tháng mùa hè, lòng sông khô cạn và người ta thường đi bộ qua sông
(📷 vào đây để xem ảnh lòng sông khô cạn với bên kia sông là tháp Đại giác ngộ)
✅ Ngài lội qua nhánh còn lại của sông Ni Liên Thiền, đi về khu vực là di tích lịch sử hiện nay - đền Đại Giác Ngộ
(📍 Nhấn vào đây để đến vị trí Đền Đại Giác Ngộ và Cội Đại Bồ Đề - Mahabodhi Temple)

CỘI ĐẠI BỒ ĐỀ NƠI THÁI TỬ ĐẠT QUẢ VỊ ĐẠI GIÁC NGỘ

Cội Đại Bồ Đề - nơi Thái tử đạt quả vị chánh đẳng, chánh giác


Truyền thuyết và kinh điển kể lại rằng, Thái tử trải bó hoa cỏ làm tọa cụ dưới 1 Cây Bồ đề, rồi Ngài thực hành thiền định. Dùng trí huệ có được nhờ thiền định, ngài soi sáng lại cuộc đời mình rồi kết hợp với những kiến thức đã thu nhận được lúc còn tại kinh thành Ca Tỳ La Vệ, cũng như quá trình tu tập, thu nạp sau 6 năm xuất gia, qua ba canh giờ dưới gốc cội đại Bồ đề, Thái tử Sĩ Đạt Đa đã trải qua Tam Minh, lần lượt từ canh 1 đến canh 3 như sau
1. Túc mạng minh (Pubbé-nivāsānussati-ñāṇa) – Canh 1
✨ "Thấy rõ vô lượng đời sống quá khứ của chính mình." -Trong canh đầu của đêm thiền định, Đức Phật nhìn thấu hàng trăm ngàn kiếp sống trước, thấy rõ mình đã từng sinh ra ở đâu, làm nghề gì, tạo nghiệp gì, thiện hay ác, chết đi và tái sinh ra sao. Ngài không chỉ thấy một vài kiếp, mà là vô số kiếp, mở ra cái nhìn xuyên suốt chuỗi sinh tử luân hồi của chính bản thân.
🔎 và từ đó ngài thực chứng:
• Xác chứng luân hồi là có thật.
• Thấy được nghiệp lực dẫn dắt chúng sinh từ đời này sang đời khác.
• Tạo nền tảng cho lòng từ bi sâu sắc: mọi người đều từng là cha mẹ, thân quyến trong vô lượng kiếp.
2. Thiên nhãn minh (Cutūpapāta-ñāṇa) – Canh 2
✨"Thấy rõ sinh tử và nghiệp báo của tất cả chúng sinh." - Trong canh hai, Ngài phát sinh “Thiên nhãn” – con mắt siêu việt vượt ngoài nhục nhãn – thấy rõ chúng sinh sinh ra và chết đi, đi từ cõi này sang cõi khác, do nghiệp lành – dữ chi phối. Ngài thấy:
• Người tạo thiện nghiệp thì sinh vào cảnh giới tốt.
• Kẻ tạo ác nghiệp thì rơi vào các cảnh giới khổ đau.
🔎 Ngài thực chứng và xác chứng:
• Khẳng định quy luật nhân quả – nghiệp báo.
• Thấy rõ sự vận hành của sinh – diệt – tái sinh nơi tất cả loài hữu tình.
• Phát sinh lòng từ bi phổ quát, vì thấy rõ nguyên nhân đau khổ của mọi loài.
3. Lậu tận minh (Āsavakkhaya-ñāṇa) – Canh 3
✨ "Đoạn trừ hoàn toàn mọi lậu hoặc (phiền não), chứng quả Giác ngộ hoàn toàn."
Ở canh ba này, Thái tử hoàn toàn diệt trừ ba lậu hoặc:
• Dục lậu (ám nhiễm vào ngũ dục),
• Hữu lậu (chấp thủ vào sự hiện hữu),
• Vô minh lậu (không thấy rõ chân lý).
Ngài không còn bất kỳ phiền não nào che mờ tâm trí, đạt đến tâm hoàn toàn thanh tịnh, không còn sinh tử – chứng đắc Vô thượng Bồ đề, trở thành một vị Phật toàn giác - Thích Ca Mâu Ni. Sau này Ngài xác chứng: "Con người có thể tự giải thoát nhờ trí tuệ, không cần thần linh ban ân, đây cũng chính là cốt lõi của đạo Phật:"Con người có thể tự mình tự đi trên con đường dẫn đến tự do tuyệt đối khỏi khổ đau" Cội Đại Bồ Đề - nơi Thái tử đạt quả vị chánh đẳng, chánh giác


Cội Đại Bồ Đề này, sau bao thăng trầm của lịch sử và thời gian, đã trải qua nhiều lần biến cố, lịch sử còn ghi lại:
1. Lần bị chặt phá đầu tiên – thời vua Ashoka (thế kỷ 3 TCN): Vợ của vua A Dục (Ashoka) – hoàng hậu Tissarakkha – vì ghen tuông khi thấy đức vua trân quí và sùng kính cây Bồ Đề, bà đã bí mật sai người đổ chất độc vào gốc cây, khiến cây chết. Vua Ashoka sau đó cho trồng lại cây Bồ Đề tại chỗ cũ.
2. Cây Bồ Đề thứ hai – được trồng lại và phát triển mạnh mẽ rồi được công chúa con Vua A Dục là Sanghamitta mang sang Sri Lanka, trồng tại chùa Mahavihara – Anuradhapura - hiện trở thành cây Sri Maha Bodhi, cây Bồ Đề cổ nhất còn sống đến ngày nay (trên 2.000 năm tuổi). 3. Lần bị chặt phá thứ hai – thế kỷ 7 sau Công nguyên một vị vua Bà La Môn là Shashanka (trị vì ở Bengal) vốn thù ghét Phật giáo, đã ra lệnh chặt cây Bồ Đề và phá hủy một phần thánh tích tại Bồ Đề Đạo Tràng. Sau lần này, người dân và Phật tử tại chỗ đã tìm cách bảo vệ gốc và rễ cây, và rồi từ đây, cội Bồ đề lại mọc lại. 4. Các lần hư hại nhỏ khác trong thời kỳ suy tàn của Phật giáo Ấn Độ: Từ thế kỷ 12 trở đi, Phật giáo ở Ấn Độ suy yếu dần do các cuộc xâm lược của các đạo quân Hồi giáo. Cây Bồ Đề không bị chặt phá hoàn toàn nhưng thiếu sự chăm sóc, nhiều lần bị thiên tai, động đất, hoặc mục nát tự nhiên. Với sức sống tự thân mãnh liệt, cây Bồ đề vẫn tái mọc lại từ gốc và rễ đã lụi tàn cũ. 5. Cây Bồ Đề hiện nay – cây thứ tư hoặc thứ năm được trồng lại vào thế kỷ 19, là cây mọc lên từ nhánh bên trái của cây Bồ đề cổ Sri Maha Bodhi ở Srilanka. Được đem về trồng lại tại chính nơi mà cây đại Bồ Đề xưa hiện diện. Cây hiện đang được bảo vệ nghiêm ngặt bởi chính quyền Ấn Độ và UNESCO (nằm trong danh sách Di sản Thế giới từ 2002).
📷 (vào đây để xem ảnh cội Đại Bồ Đề từ hướng tây, mùa xanh lá)
📷 (vào đây để xem ảnh cội Đại Bồ Đề từ hướng tây, mùa lá mới mọc lại)
📷 vào đây để xem ảnh Gốc cội Đại Bồ Đề, vị trí Thái Tử ngồi thiền định
📷 (vào đây để xem ảnh cội Đại Bồ Đề từ hướng Nam)
📷 (vào đây để xem ảnh cội Đại Bồ Đề từ hướng bắc)
📷 (vào đây để xem ảnh cội Đại Bồ Đề cận cảnh)

ĐẠI THÁP GIÁC NGỘ

Ngày nay, đến viếng bái Bồ Đề Đạo Tràng, hành giả được chiêm bái ngôi chùa theo phong cách chùa Tháp cổ của Ấn độ, có tên là Mahabodhi Temple Đại tháp Giác Ngộ

Khởi thủy của ngôi đền này có từ thời vua A Dục. Để Hoằng Pháp và lưu dấu nơi Thái Tử thành đạo, vua A Dục (Ashoka) là người đầu tiên cho xây kỳ đài tưởng niệm tại nơi Thái tử thành đạo, khoảng 250 TCN, sau khi ông cải đạo sang Phật giáo. Ông đã cho dựng:
✨Trụ đá A Dục với dòng chữ khắc ghi lại sự kiện này (vào đây để xem ảnh trụ đá vua A Dục dựng tại Bồ Đề Đạo Tràng)
✨Một ngôi đền nhỏ đầu tiên để đánh dấu nơi thành đạo, và là nền móng đầu của tháp Đại Giác Ngộ ngày nay
✨Hàng rào đá (Vajrasana) đánh dấu nơi Đức Phật ngồi thiền - hiện được xem là hàng rào quanh cội đại Bồ Đề
(vào đây để xem ảnh hàng rào đá quanh nơi Thái tử ngồi thành đạo)
Đến thời kỳ Gupta (khoảng TK 5 SCN), ngôi tháp hiện nay được xây dựng với qui mô như hiện nay và được mô tả trong nhật kí của ngài Huyền Trang khi ngài du học qua đây. Thế kỷ 12–13, các cuộc xâm lược từ phương Bắc, đặc biệt là quân Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ (Delhi Sultanate), đã tàn phá nghiêm trọng ngôi chùa tháp này. Thế kỷ 19, dưới sự vận động của Sir Alexander Cunningham (nhà khảo cổ học người Anh) và Anagarika Dharmapala (Đại đức người Sri Lanka), tháp được khảo cổ và trùng tu quy mô như ngày nay. Năm 1949, chính phủ Ấn Độ lập ra Ủy ban quản lý đền Đại Giác ngộ (BTC – Bodhgaya Temple Committee) và ngôi đền Mahabodhi Temple được UNESCO công nhận là Di sản Thế giới vào năm 2002.
📷 (vào đây để xem ảnh đại tháp cùng cây Bồ đề từ hướng Tây)
📷 (vào đây để xem ảnh đại tháp cùng cây Bồ đề từ hướng Tây nam)
📷 (vào đây để xem ảnh đại tháp cùng cây Bồ đề từ hướng đông bắc)
📷 (vào đây để xem ảnh đại tháp cùng cây Bồ đề từ hướng đông bắc khác)
📷 (vào đây để xem ảnh đại tháp cùng cây Bồ đề từ hướng bắc)
📷 (vào đây để xem ảnh đại tháp cùng cây Bồ đề từ hướng đông nam)
Ngày nay, người hành hương từ khắp nơi trên thế giới đổ về Bồ đề đạo tràng để chiêm bái thánh tích ngày càng đông. Thường tiến hành viếng bái theo thứ tự 7 tuần Đức Phật trải qua ngay sau khi thành đạo. Lịch sử và Kinh điển có ghi lại, sau khi thành đạo, Đức Phật dành thêm 7 tuần tại khu vực Bồ đề Đạo Tràng và ngày nay, Viện bác cổ Ấn độ và ủy ban quản lý Bồ Đề Đạo Tràng (BTMC) đã cho dựng các trụ đá để đánh dấu từng vị trí, 7 tuần Đức Phật trải qua ngay sau khi thành đạo

7 TUẦN ĐẦU TIÊN NGAY SAU KHI THÀNH ĐẠO

7 tuần đầu tiên sau giác ngộ của Đức Phật


🪷Tuần đầu tiên ngay sau khi thành đạo lúc mặt trời lên, Đức Phật ngồi thiền định liên tục suốt bảy ngày dưới cội Bồ Đề (Bodhi Tree). Ngài an trú trong hỷ lạc giải thoát, chứng nghiệm Niết Bàn, tận hưởng sự tĩnh lặng sâu sắc của tâm hoàn toàn giải thoát khỏi phiền não. Đây là giai đoạn Đức Phật quán sát và xác chứng lại con đường Trung đạo và ba minh (Túc mạng minh, Thiên nhãn minh, Lậu tận minh) Ngài vừa chứng đạt
📍 Nhấn vào đây để đến vị trí tuần thứ nhất
(vào đây để xem ảnh vị trí tuần thứ nhất Đức Phật trải qua ngay sau khi thành đạo)
🪷Tuần thứ hai: Ngài đứng chiêm bái suốt 7 ngày không chớp mắt ở một điểm đối diện với cây Bồ Đề – nơi Ngài đã giác ngộ. Cử chỉ ấy biểu hiện sự biết ơn sâu sắc của Đức Phật đối với cây Bồ Đề, nơi đã che mưa nắng cho Ngài trong suốt quá trình thiền định, cũng là minh chứng cho tinh thần tri ân và khiêm hạ – một trong những giá trị trung tâm của đạo Phật.
📍 Nhấn vào đây để đến vị trí tuần thứ hai
(vào đây để xem ảnh vị trí tuần thứ hai Đức Phật trải qua ngay sau khi thành đạo)
(vào đây để xem ảnh bảng ghi chú về vị trí tuần thứ hai Đức Phật trải qua)
🪷Tuần thứ ba: Đức Phật đi thiền hành qua lại giữa cây Bồ Đề và chỗ Ngài đứng ở tuần thứ hai với lòng hoan hỉ và giải thoát được mô tả là có lúc chân không chạm đất. Ngày nay, trên đoạn đường kinh hành này, người ta xây dựng những đóa sen dưới đất và trên cao để biểu tả lại những dấu chân kinh hành này của Ngài
📍 Nhấn vào đây để đến vị trí tuần thứ ba
📷 (vào đây để xem ảnh vị trí tuần thứ ba Đức Phật đi kinh hành)
🪷Tuần thứ tư: Ngồi trong hang Bảo Tháp Đá (Ratanaghara) nằm phía bắc cây Bồ Đề, để quán chiếu sâu xa về tính không, lý duyên khởi và các pháp, chiêm nghiệm giáo lý mà sau này trở thành cốt lõi của Phật pháp. Theo truyền thuyết, trong suốt tuần lễ này, hào quang từ thân Đức Phật tỏa sáng với năm màu sắc, đại diện cho ngũ uẩn thanh tịnh sau này được lấy làm 5 màu của cờ Phật giáo. Đây chính là thời điểm trí tuệ và từ bi được trưởng thành đầy đủ.
📍 Nhấn vào đây để đến vị trí tuần thứ tư
📷 (vào đây để xem ảnh vị trí tuần thứ tư Đức Phật trải qua)
🪷Tuần thứ năm: Ngài ngồi dưới cây Ajapala Nigrodha (một dạng cây đa mọc trong rừng), nơi diễn ra cuộc đối thoại nổi tiếng giữa Đức Phật và Phạm Thiên (Brahma) trong đó Phạm Thiên khẩn cầu Đức Phật thuyết pháp cho thế gian vì chúng sinh đang chìm trong vô minh, khổ đau. Ban đầu Đức Phật do dự vì thấy chúng sinh khó hiểu được chân lý vi diệu mới này nhưng sau đó, Ngài nhận lời, vì thấy vẫn có những người hữu duyên, có "ít bụi trần trong mắt" và có thể tiếp nhận con đường giải thoát mà Ngài vừa chứng thực.
📍 Nhấn vào đây để đến vị trí tuần thứ năm
📷 (vào đây để xem ảnh vị trí tuần thứ năm Đức Phật trải qua)
🪷Tuần thứ sáu: Khi Đức Phật đang ngồi thiền dưới cây Mucalinda, mưa gió lớn kéo đến trong 7 ngày đêm. Một rắn thần Mucalinda trồi lên từ lòng đất, dùng thân quấn quanh Đức Phật và phồng mang che mưa nắng cho Ngài, đây là hình ảnh biểu tượng của thiên nhiên quy phục Đức Phật, đồng thời thể hiện sự yên tĩnh nội tâm của Ngài dù ở bất cứ hoàn cảnh nào khi ngoại cảnh đầy biến động.
📍 Nhấn vào đây để đến vị trí tuần thứ sáu
📷 (vào đây để xem ảnh vị trí tuần thứ sáu Đức Phật trải qua)
🪷Tuần thứ bảy: Khi Đức Phật ngồi thiền dưới cây Rajayatana, tiếp tục quán chiếu giáo lý và con đường cho chúng sinh thì có hai thương nhân người Myanmar là Tapussa và Bhallika đã dâng cúng phẩm vật và xin quy y – trở thành hai cư sĩ đầu tiên trong lịch sử Phật giáo. Đức Phật trao cho họ mấy lọn tóc của mình làm tín vật, vì lúc đó Tăng đoàn chưa được thành lập. 📍 Nhấn vào đây để đến vị trí tuần thứ bảy
📷 (vào đây để xem ảnh vị trí tuần thứ bảy Đức Phật trải qua)
✨ Cuối cùng, Ngài đúc kết bài kệ đầu tiên (Kinh Pháp cú) như sau: “Ta lang thang trong vòng luân hồi biết bao đời,
Tìm mãi mà không gặp, người thợ cất ngôi nhà này.
Khổ thay phải tái sinh, hết đời này đến đời khác.”
“Này người thợ làm nhà! Nay ta đã thấy ngươi.
Ngươi không còn cất nhà cho ta nữa.
Tất cả rui mè đều gãy, đòn tay cũng bị phá tan.
Tâm ta đạt đến vô vi, diệt trừ hết mọi ái dục.”
✨ Người thợ làm nhà ở đây chính là chính là tham ái – cũng là nguyên nhân chính để lôi kéo con người vào vòng luân hồi không dứt.
✨ Ngôi nhà là tượng trưng cho thân và tâm bị chi phối bởi vô minh và ái dục.
Khi đoạn được tham ái, là trừ được nguyên nhân lôi kéo của vòng luân hồi và từ đó, có thể chứng đắc Niết Bàn khi mọi gốc rễ tái sinh đã bị đoạn tuyệt. Ngài tuyên bố sự chấm dứt khổ đau là có thật, là thực chứng, không phải lý thuyết. Đây cũng là bài pháp không lời đầu tiên của Đức Phật – một lời tự tuyên thệ giải thoát!
卍 Bảy tuần sau khi giác ngộ là thời gian Đức Phật hoàn thiện sự thẩm thấu chân lý, quán chiếu thực tại một cách sâu sắc. Đây cũng là thời kỳ Ngài tái xác lập niềm tin, sự tri ân, từ bi và trí tuệ, chuẩn bị cho Phật giáo ra đời với bài Pháp đầu tiên tại Vườn Nai (Sarnath).

MỘT VÒNG QUANH CỘI BỒ ĐỀ - NƠI THÁI TỬ THÀNH ĐẠO

Hàng ngày, rất đông Phật tử hành hương về chiêm báo nơi này khiến xung quanh cội Bồ đề trở nên hết sức đông đúc. Những vị dành thời gian dài hơn tại khu vực này, thường phải rải ra các khu vực Tháp thờ hoặc các công trình xung quanh
📷 (Ảnh các khu vực xung quanh Đại Tháp Giác Ngộ và cây Bồ Đề)


📷 (Ảnh các khu vực xung quanh Đại Tháp Giác Ngộ và cây Bồ Đề)
📷 (Ảnh các khu vực xung quanh Đại Tháp Giác Ngộ và cây Bồ Đề)
📷 (Ảnh các khu vực xung quanh Đại Tháp Giác Ngộ và cây Bồ Đề)
📷 (Ảnh các khu vực xung quanh Đại Tháp Giác Ngộ và cây Bồ Đề)
📷 (Ảnh các khu vực xung quanh Đại Tháp Giác Ngộ và cây Bồ Đề)
class="post-thumb"> 📷 (Ảnh các khu vực xung quanh Đại Tháp Giác Ngộ và cây Bồ Đề)
(📷 vào đây để xem ảnh hòn non bộ Quán thế Âm Bồ tát do Tăng ni Phật tử việt nam cúng dường tại góc trong cùng, phía nam tháp Đại giác Ngộ, phía sau hồ nước)

VƯỜN THIỀN BÊN CẠNH THÁP ĐẠI GIÁC

✅ Nếu muốn 1 chỗ yên tĩnh thực sự cho thiền định, quý khách có thể có lựa chọn là đi vào vườn thiền phía bên góc đông nam của khu đại tháp, nơi đây là cả 1 thế giới an tịnh hướng về nơi Thái Tử đạt quả vị Giác Ngộ Bồ Đề
(📷 vào đây để xem ảnh cổng vườn thiền)
(📷 vào đây để xem ảnh chuông Tây tạng nhìn về phía tháp Đại giác Ngộ)
(📷 vào đây để xem ảnh vườn thiền)
(📷 vào đây để xem ảnh chuông hòa Bình của chư tăng chùa ở Huế dâng cúng trong vườn thiền)
Ngoài ra, hành giả có thể trú ngụ hoặc thăm viếng các ngôi chùa và tự viện Phật giáo xung quanh khu vực đại Tháp. Có thời gian và bạn đồng hành, có thể đi thăm cả nơi Sơ Tổ Ca Diếp nhập định tại núi Kê Túc, cách đó khoảng 90 phút ô tô cho khoảng 30km đường chim bay hoặc 55km đường bộ
(Vào đây viếng bái Núi Kê Túc - Sơ Tổ Ca Diếp nhập định)
📘 Đọc toàn văn cuốn sách: Đức Phật Lịch Sử (bản PDF)

📥 Tải về bản PDF

🙏 Xin cám ơn quí vị - quay về trang chủ: Quay về trang chủ