THỰC HÀNH ĐẠO PHÁP TẠI TỲ XÁ LY - Tỳ XÁ LY

 

V́ mối thâm giao với vua Tần Bà Sa La, Đức Phật dành hạ thứ 3 đến an cư tại Thành Vương Xá (năm 525 trước công nguyên). Năm 524 trước CN, những cơn mưa lớn đă đổ xuống phía nam sông Hằng, và Đức Phật đang chuẩn bị NHẬP HẠ tại Trúc Lâm Tịnh Xá để hành thiền và giáo giới chư Tăng th́ có một sứ thần đến Thành Vương Xá từ Tỳ Xá Ly, thủ đô cộng ḥa Licchavi. Đó là Mahàli, một thân hữu của Đại Vương Tần Bà Sa La, ông tŕnh tấu rằng đang có đại nạn ở Tỳ Xá Ly (Tỳ Xá Ly—Vaishaly ngày nay). Do hạn hán, nạn đói đă xảy ra làm nhiều người đă chết dẫn đến nạn dịch tả ḥang hành. Do vậy sứ thần Mahàli xin vua Tần Bà Sa La thuyết phục Đức Phật đến Tỳ Xá Ly cứu khổ cho kinh thành và cả nước cộng ḥa này.

 

Cộng ḥa Licchavi (với Tỳ Xá Ly là thủ đô) đă kết hợp với cộng ḥa Videha (thủ đô là Mithilà) cùng một số bộ tộc được gọi là Liên bang Vajji vẫn được miêu tả với nhiều thiện cảm trong Kinh Tạng Pàli và đây là nơi có nền cộng ḥa đầu tiên trên thế giới. Số quư tộc vơ tướng khoảng 14.000 người Licchavi điều hành công việc của chừng 250.000 cư dân của nước này, và đề cử các quốc vương, đă nhiều lần được tán dương về ư thức trách nhiệm trị nước. Các kỳ họp hội đồng nhân dân ở Tỳ Xá Ly được triệu tập bằng một hồi trống, được một trong ba quốc vương Licchavi chủ tọa và tổ chức chu đáo, c̣n các biện pháp được chấp thuận thông qua đều được hội nghị cương quyết biến thành hành động. Công lư được thực hiện nhanh chóng và khách quan. Mặc dù đất nước tương đối phồn thịnh, các vị quư tộc Licchavi vẫn sống khiêm tốn. Nhiều vị vơ tướng trẻ tuổi chỉ ngủ trên nệm rơm và thực hành nhiều kỹ năng quân sự (SN 20.8) . Họ cũng luyện chó dữ để đánh trận và được kiêng nể về tài thiện xạ.

 

Đức Phật đă đồng ư với lời thỉnh cầu của sứ thần Mahàli và theo đề nghị của vua Tần Bà Sa La, ra đi cùng vài đệ tử đến thành Tỳ Xá Ly nơi đang bị khô hạn và nạn dịch tả hoàng hoằnh. Ngay khi ngài đặt chân lên bờ phía bắc trong cộng ḥa Licchav́ th́ kỳ diệu thay, nguồn nước lũ từ cổng trời mở ra, trận mưa được chờ đợi từ lâu cũng đổ xuống khắp xứ sở này và nạn hạn hán chấm dứt. Cả kinh thành và mọi người đều kinh ngạc trước khả năng của Đức Phật.

 

Đức Phật giao nhiệm vụ chống bệnh dịch tả cho đệ tử ngài, tôn giả Ànanda, người mà theo chuyện kể lại, đă được ngài dạy kinh Bảo Châu (Ratana Sutta).

 

Dẫu châu báu đời này hay đời kế, 
Bảo vật nào trên thiên giới huy hoàng, 
Không một thứ ǵ có thể sánh ngang 
Với tối thượng bảo châu là Đức Phật, 
Đức Như Lai là bảo châu đệ nhất, 
Nhờ Chân lư này hạnh phúc ngập tràn! 
(Kinh Bảo Châu, kệ 224)

 

Chỉ trong một thời gian ngắn, tôn giả Ànanda đă trấn áp thành công bệnh dịch tả nhờ thần chú nói trên với niềm tin vào Đức Phật. Vậy là lần đầu tiên, từ đây, Đức Phật không chỉ được biết đến là bậc Giác Ngộ mà c̣n được biết đến như một vị đại thần thông.

 

Mặc dù dân chúng Tỳ Xá Ly nỗ lực làm nhà thật khang trang dành cho Đức Phật ở trong kinh thành và mặc dù ngài được cung cấp đầy đủ tiện nghi tại Sảnh Đường Có Nóc Nhọn ở Đại Lâm (Mahàvana), mặc dù ngài đă được thỉnh cầu và nghênh tiếp như một vị cứu khổ cứu nạn, ngài vẫn rời kinh thành này bảy ngày sau đó và trở về Thành Vương Xá, nơi ngài an cư phần mùa mưa c̣n lại. 
  
 

THÀNH LẬP GIÁO HỘI TỲ-KHEO-NI

 

Người ta phỏng đoán và mường tượng rằng trong lúc Đức Phật vẫn c̣n ở Tỳ Xá Ly, ngài nghe tin phụ vương Vua Tịnh Phạn sắp lâm chung tại Ca Tỳ La Vệ. Để kịp gặp vua cha trước khi từ trần, bậc Đạo Sư đă du hành qua không gian đến kinh thành này vừa kịp để thuyết giảng một bài kinh cho phụ vương Vua Tịnh Phạn, nhờ đó nhà vua đắc quả Giác Ngộ và có thể nhập Niết-bàn lúc mệnh chung. Đó là câu chuyện thần thoại theo ư một luận sư.

 

Sự thật trong sử kư là vua Vua Tịnh Phạn từ trần vào cuối năm 524 trước CN, c̣n Đức Phật về thăm quê hương lần nữa vào năm sau, năm 523, lúc ấy Vua Tịnh Phạn đă được hỏa táng từ lâu, và một vị quốc vương mới đă được bầu lên cai trị.

 

Có lẽ vào dịp viếng thành Ca Tỳ La Vệ lần thứ hai này Đức Phật làm người trung gian ḥa giải cuộc xung đột về việc sử dụng nguồn nước sông Rohiń. Sông Rohiń (nay là Rowai) làm biên giới giữa cộng ḥa Sakya và lănh thổ bộ tộc Koliya, đă được ngăn bằng con đập do hai bộ tộc này cùng xây từ đó họ kéo nước đổ vào đồng ruộng. Vào khoảng tháng Năm - Sáu năm 523, mực nước thấp đến độ chỉ đủ đưa nước vào một bên bờ này hoặc bờ kia, nên cuộc tranh căi bùng ra giữa nông dân hai bộ tộc Sakiya và Koliya khả năng chiến tranh là gần như không tránh khỏi.

 

Lúc ấy Đức Phật đứng giữa hai trận tuyến như người trung gian ḥa giải. Uy danh của ngài là bậc Giác Ngộ, địa vị ngài là người thân tín của vua Ba Tư Nặc, vị Đại Vương mà cả hai bộ tộc đều làm chư hầu, cùng biện tài của ngài đă tạo nên phép thần kỳ hy hữu ít ai ngờ được. Ngài giảng giải cho cả hai bên hiểu rằng nước sông không giá trị bằng nhân mạng và nhờ vậy, ngài đă ngăn chận thành công sự đổ máu và xoa dịu những người tranh căi đầy cuồng nộ ấy (Jàt 536).

 

Trong dịp Đức Phật về thăm Ca Tỳ La Vệ lần này, kế mẫu của ngài là bà Maha Ba Xà Ba Đề (Kiều Đàm Di Mẫu), do thái tử Sĩ Đạt Đa, vương tôn La Hầu La và vương tử Nanda đều đă xuất gia, bà không c̣n ai để săn sóc trừ công chúa Sundaŕnanda, con gái bà; hơn nữa, sau khi vua Vua Tịnh Phạn từ trần bà không c̣n phận sự gia đ́nh, v́ vậy tuổi đă cao, bà muốn trở về với đạo giáo. Một hôm bà t́m thấy Đức Phật ở Nigrodhàràma (Ni-câu-luật Viên: Rừng Cây Đa) ngoại kinh thành, bà liền thưa:

"Nếu nữ giới cũng được xuất gia sống không gia đ́nh (làm Tỳ-kheo-ni) trong Giáo Pháp của Thế Tôn th́ thật hạnh phúc thay!". Đức Phật tránh né và phủ nhận, thậm chí giữ nguyên lời chối từ khi bà Maha Ba Xà Ba Đề (Kiều Đàm Di Mẫu) lập lại lời thỉnh cầu đến ba lần. Bà đă bật khóc khi nghe lời chối từ này và quay trở về thành Ca Tỳ La Vệ (Cv 10. 1. 1).

 

Mùa hạ cuối cùng, Đức Phật rời quê nhà và đến thủ đô Vesali của người Licchavi, nơi ấy ngài được an cư trong Sảnh Đường Có Nóc Nhọn như năm trước. Cùng lúc ấy, bà Maha Ba Xà Ba Đề (Kiều Đàm Di Mẫu) lại cố thu hết can đảm một lần nữa, cắt tóc và đắp y vàng như một Tỳ-kheo, rồi được một số nữ nhân ḍng Sakiya hộ tống (kinh sách nói là khoảng 500), bà đi theo Đức Phật suốt cuộc du hành này. Với đôi chân sưng phồng và đất bụi bám đầy, bà đến Tỳ Xá Ly, tại đó, tôn giả Ànanda thấy bà, Bà vừa khóc vừa kể cho tôn giả nghe ư nguyện của bà là xin bậc Đạo Sư cho phép thành lập Giáo hội Tỳ-kheo-ni (Cv 10. 1. 2). Tôn giả Ànanda động ḷng chuyển ư nguyện tha thiết nhất của bà Maha Ba Xà Ba Đề (Kiều Đàm Di Mẫu) lên Đức Phật, ngài lại từ chối. V́ vậy tôn giả Ànanda bắt đầu biện hộ cho trường hợp này:

-- "Bạch Thế Tôn, nữ giới xuất gia sống không gia đ́nh trong Pháp và Luật của Thế Tôn, có khả năng chứng đắc quả vị Giác Ngộ được chăng?

-- Này Ànanda, có thể được.

-- Bạch Thế Tôn, v́ nữ giới có khả năng về việc này, và v́ hoàng hậu Maha Ba Xà Ba Đề (Kiều Đàm Di Mẫu) Gotaḿ đă có công lớn đối với Thế Tôn, vừa là di mẫu của Thế Tôn, vừa là kế mẫu, nhũ mẫu bảo vệ Thế Tôn, v́ chính lư do này nên Thế Tôn cho phép nữ giới xuất gia sống không gia đ́nh trong Pháp và Luật của Thế Tôn thật hạnh phúc thay!

-- Này Ànanda, nếu mẫu hậu Maha Ba Xà Ba Đề (Kiều Đàm Di Mẫu- Mahàpajàpati) cam kết tuân theo Tám Trọng Giới này th́ hăy xem đây là lễ thọ giới của bà". (Cv 10. 1. 3-4, giản lược)

 

Rồi ngài nêu Tám Trọng Giới , tất cả đều nhằm mục đích làm cho Ni chúng (Bhikkhuń) phục ṭng Tăng chúng. Ngay cả một Tỳ-kheo-ni đại trưởng lăo cũng ở địa vị thấp hơn một tiểu tăng mới thọ giới và phải cung kính đảnh lễ vị ấy. Khi nghe tôn giả Ànanda nói Tám Trọng Giới này, bà Maha Ba Xà Ba Đề (Kiều Đàm Di Mẫu) chấp nhận mọi điều kiện trên (Cv 10. 1. 2-5) và như vậy bà được thọ giới làm Tỳ-kheo-ni đầu tiên của Giáo hội Phật giáo (Cv 10. 2. 2)

 

Đức Phật đă không đồng ư thành lập Giáo Hội Tỳ-kheo-ni; cũng chỉ v́ bổn phận đạo lư buộc ngài hoàn thành ước nguyện của bà kế mẫu mà bỏ qua lời chối từ ban đầu. Những điều ngài suy nghĩ về Giáo Hội Tỳ-kheo-ni thể hiện qua lời ngài nói với tôn giả Ànanda khi vị này tŕnh ngài việc bà Maha Ba Xà Ba Đề (Kiều Đàm Di Mẫu) chấp nhận Bát Kính Pháp:

 

"Này Ànanda, nếu nữ giới không được phép xuất gia sống không gia đ́nh trong Pháp và Luật này, đời Phạm hạnh có thể tồn tại lâu dài, Chánh Pháp có thể tồn tại một ngàn năm. Nhưng nay v́ nữ giới đă được xuất gia, đời Phạm hạnh sẽ không tồn tại lâu dài, và Chánh Pháp sẽ chỉ tồn tại năm trăm năm.

Giống như những gia đ́nh nào có nhiều phụ nữ và ít nam nhân dễ trở thành mồi ngon cho bọn đạo tặc cướp tài sản, cũng vậy là Giáo hội có nữ giới được phép xuất gia.

Giống như một ruộng lúa chín có bệnh dịch trắng như xương và ruộng mía chín bị bệnh rỉ sét đỏ phải tàn tạ, cũng vậy là Giáo hội có nữ giới được phép xuất gia.

Giống như một người xây con đê làm hồ chứa nước, để cho nước không tràn qua bờ được, cũng vậy, này Ànanda, ta đă ban hành Bát Kính Pháp này cho các Tỳ-kheo-ni". (Cv 10.1.6, giản lược, hoặc AN. 4.-6.51)

 

 

TÓM LƯỢC LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT

LIÊN QUAN ĐẾN PHẬT TÍCH

Trên 24 Năm chuyên trách hành Hương Phật tích Ấn Độ, Nepal

Oval: Về Trang trước
Oval: Trang Tiếp Theo
Oval: Về Phật Tích Tại Tỳ Xá Ly