VUA BA TƯ NặC TRỞ THÀNH ĐỆ TỬ TẠI GIA

 

V́ có ông Cấp Cô Độc phát nguyện cúng dường Tăng chúng một tinh xá ở thành Xá Vệ (Sàvatthi) nên đức Phật đă khởi hành lên kinh đô nước (Kosala) Kiều Tất La không lâu sau cuộc đàm đạo với nhà đại phú này. Một hôm, chúng Tăng thọ thực tại nhà ông Cấp Cô Độc và câu chuyện sau đây diễn ra:

 

Ông Cấp Cô Độc: Bạch Thế Tôn, chúng con sẽ phải sắp đặt mọi việc ở Kỳ Viên như thế nào?

Đức Phật: Hăy sắp đặt nơi đây cho Tăng chúng từ bốn phương trời, cả hiện tại lẫn tương lai nữa.

Ông Cấp Cô Độc: Lành thay, bạch Thế Tôn. (Cv 6. 9)

 

Lúc ấy ông không làm lễ rót nước lên tay chính thức chuyển nhượng quyền sở hữu chủ, mà chỉ có lễ trao quyền sử dụng Kỳ Viên cho Tăng chúng, nhưng nhờ câu đối đáp khôn khéo của đức Phật, nơi này tiếp tục tồn tại thật lâu dài sau khi ngài diệt độ. Ông Cấp Cô Độc vẫn là sở hữu chủ hợp pháp của Kỳ Viên, nơi mà ông trao quyền tùy nghi sử dụng vào tay Giáo đoàn đức Phật như một vật cho mượn vĩnh viễn.

 

11 năm sau, từ 508 trước công nguyên trở đi  Đức Phật nhập hạ tại Kỳ Viên Tịnh Xá do ông Cấp Cô Độc xây trong vường Kỳ Đà Cấp Cô Độc tổng cộng 18 hạ. 6 hạ nữa ngài cũng ở thành Xá Vệ nhưng nhập hạ tại Đông Viên Tinh Xá (Pubbàràma) cũng ở Sàvatthi, một ngôi nhà do nữ cư sĩ hào phóng Visàkhà Migàramàtà (Tỳ-xá-khư Lộc Mẫu) cúng dường.

 

Đại Vương Ba Tư Nặc nước Kiều Tất La, người vào độ tuổi bằng đức Phật cũng tuyên thệ làm đệ tử tại gia của đức Phật bằng cách phát nguyện Tam Quy.

Cũng giống như việc vua Tần Bà Sa La công nhận Giáo Pháp đă khởi đầu sự thành tựu đột phá trong việc truyền đạo ở quốc độ Magadha (Ma Kiệt Đà), tin "Đại Vương Ba Tư Nặc quy y Giáo Pháp của Sa-môn Gotama" lan rộng nhanh như ngọn lửa rừng, chẳng bao lâu đến tận các nước cộng ḥa chư hầu, gồm cả xứ sở của bộ tộc Sakiya (Thích Ca) nữa. 
  
 

VUA BA TƯ NặC VÀ VƯƠNG QUỐC KIềU TấT LA

 

Đại Vương Kiều Tất La với dáng đẫy đà xuất hiện theo lời mô tả trong Kinh Tạng Pàli như một mẫu người rất sống động phối hợp cuộc đời xa hoa, thái độ ân cần thân thiện với cách suy tư đầy triết lư và tài chính trị tinh khôn đầy mưu lược. Vua này là con của Đại Vương MahàKiều Tất La. Phụ vương đă trao quyền cai trị cho ông ngay sau khi ông du học trở về từ Takkaśla, và sau khi ông chứng tỏ tài cai trị trong chức vị thống đốc thành Kàsi (Benares). Viện Đại học ở Takkaśla, thủ đô Gandhàra, là cơ quan giáo dục cao trọng nhất ở Nam Á, với một chương tŕnh học đầy hấp dẫn. Ngoài các môn triết lư và thần học (nghiên cứu triết lư Vệ-đà, các kỹ năng tế lễ, chú thuật, văn phạm kinh Vệ-đà) và các môn thế học về luật pháp và chính trị, c̣n dạy nhiều nghề thực tiễn (như y khoa, luyện voi, đấu kiếm và bắn cung). Đại học này mở ra cho bất cứ người nào thuộc giai cấp quư tộc Sát-đế-lỵ và Bà-la-môn có đủ các điều kiện cần thiết. Học phí rất cao, nhưng các sinh viên nghèo thời ấy có thể phục vụ các giáo sư để thay vào món học phí phải trả (Jàt.252). Mọi sinh viên đều sống trong khu đại học theo kỷ luật nghiêm khắc. H́nh phạt đối với các vị vi phạm trật tự thường là cách trừng trị bằng roi gậy.

 

Cả việc vua Ba Tư Nặc tham đắm lạc thú ẩm thực lẫn khát vọng đền bù khoảng thời gian đă mất ấy bằng những cuộc t́nh ái có thể phát sinh từ lối sống khắc khổ thời sinh viên ở Takkaśla. Kinh sách vẫn thường nói đến nhiều vị vương phi của ông. Gạt bỏ qua một bên mọi thông lệ của xă hội và giai cấp, ông đă chọn nương tử yêu kiều Mallikà làm chánh hậu, đó là con gái của một nhà làm ṿng hoa, người đă biết dùng mọi vẻ diễm lệ an ủi khôn khéo cho ông nguôi sầu sau một trận chiến bại. Nhà vua rất quư trọng trí thông minh xử sự của bà, và thường tham khảo ư kiến bà trước khi quyết định việc cai trị. Ta c̣n biết được tên của bốn vương phi khác nữa: đó là chị em vương phi Somà và Sakulà, vương phi Ubb́ŕ và vương phi Vàsabhakkhattiyà thuộc ḍng Thích-ca. Khi vua Ba Tư Nặc muốn cưới một người vợ từ bộ tộc Thích-ca, nàng đă được rước về từ kinh đô Ca Tỳ La Vệ theo lời cầu hôn của ông. Sau này nàng trở thành mẫu hậu của thái tử Vidùdabha.

 

Việc học tập của vua ở Takkaśla đă làm cho trí tuệ ông thêm sắc bén, nhưng khó làm cho ông thích hợp việc trị nước. Đôi khi các tư duy triết lư ngăn cản ông quyết định và thỉnh thoảng các ư tưởng ấy lại khởi lên giữa công việc triều chính khiến cho ông chán nản. Ông từng nói với đức Phật là ông quá bực ḿnh v́ nhiều điều dối trá mà ông phải nghe khi làm chủ tọa pháp đ́nh đến độ ông giao quyền xử án cho một vị phán quan khác (SN 3. 7. 2). Lắm phen ông dùng câu nói này với đức Phật: "Khi con lắng tâm suy nghĩ, tư tưởng này nảy ra trong trí con..."(SN 3. 4. 2), một cách phát ngôn rơ ràng biểu lộ bản tính hay suy tư của ông. Nếu quốc sự cho phép, vua Ba Tư Nặc hẳn đă dành nhiều th́ giờ hơn cho các mối quan tâm về triết lư và đạo giáo của ông. Tuy nhiên, những suy tư về chính trị buộc ông phải biết hạn chế và phân phát ân huệ đồng đều giữa các giáo phái có thể ảnh hưởng đến dư luận quần chúng. Ông đă làm cân xứng với các tặng vật dành cho hội chúng đức Phật - trong đó nổi bật nhất là ngôi giảng đường của tinh xá ở quần thể Kỳ Viên và Vương Lâm Tinh Xá (Ràjakàrama) -- bằng cách ban lợi tức thu thuế ba ngôi làng cho ba vị Bà-la-môn chuyên nghiệp lừng danh về tri thức Vệ-đà. Thực ra ông không bao giờ từ bỏ đạo tế thần theo Vệ-đà, và có lần chẳng chú ư ǵ đến sự khinh bỉ của đức Phật, ông đă tổ chức một đại tế lễ bằng máu (SN 3.9).

 

Việc ủng hộ tôn giáo đ̣i hỏi rất nhiều tiền bạc. Có một lần, khi nhà vua muốn sử dụng công khố để làm lợi cho Tăng chúng đức Phật, vị triều thần Kàla cố can ngăn ông. Đức Phật bày tỏ thái độ bất b́nh đối với Kàla, ngay sau đó vua Ba Tư Nặc băi chức viên quan này. Trường hợp trên nêu rơ ảnh hưởng của đức Phật đối với nhà vua, đồng thời chứng minh rằng ngài biết cách bảo vệ quyền lợi của giáo hội nữa.

 

Một bài kinh trong Tương Ưng Bộ (3.12)kể lại một cuộc hội nghị gồm năm vua là Đại Vương Ba Tư Nặc và 4 vua chư hầu có thể  là quốc trưởng bộ tộc Sakiya từ Ca Tỳ La Vệ, quốc trưởng bộ tộc Koliya từ Ràmagàma, quốc trưởng bộ tộc Moriya từ Pipphalivana, và một trong hai quốc trưởng của cộng ḥa Malla, hoặc từ Kusinàrà hoặc từ Pavà tới. Thay vào một trong hai vị này, quốc trưởng Kàlàma từ Kesaputta cũng có thể đă hiện diện. Bài kinh không nói cho ta biết mục đích chính trị của hội nghị này, mà chỉ cho ta thấy thỉnh thoảng các quốc vương cũng bàn luận triết lư -- trong dịp này đó là vấn đề giác quan nào -- mắt, tai, mũi, lưỡi, thân -- đem lại lạc thú tối cao. Theo đề nghị của vua Ba Tư Nặc, vấn đề được đưa đến đức Phật, ngài đáp rằng mỗi giác quan đều mang lại lạc thọ lẫn khổ thọ. Không giác quan nào có thể được đánh giá cao hơn cái khác, nhưng trong trường hợp so sánh các dục lạc, th́ giác quan nào đem lạc thú tối cao phải được xem là thượng đẳng, bất kể giác quan nào cả.

 

Chi tiết này cho thấy tầm quan trọng của Đức Phật đối với Đại Vương Ba Tư Nặc và việc tham kiến Đức Phật như kể trên, đă có ảnh hưởng rất tốt đến sự tiếp nhận đạo giáo mới của Đức Phật đối với các nước chư hầu.

 

TÓM LƯỢC LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT

LIÊN QUAN ĐẾN PHẬT TÍCH

Oval: Về Trang trước
Oval: Trang Tiếp Theo
Oval: Về phần Thành Xá Vệ

Trên 24 Năm chuyên trách hành Hương Phật tích Ấn Độ, Nepal