TRỞ LẠI THÀNH VƯƠNG XÁ lần 2 sau khi thành đạo.

 

Năm 526 trước CN chứng kiến đức Phật trở về thành Vương Xá lần nữa, nơi đó ngài an cư mùa mưa tại Vehuvana (Trúc Lâm) "tinh xá" như trước. Một trong những nơi ngài thường đến thăm nhiều nhất là Gijjhakùta (Linh Thứu Sơn). Tại đây ngài có thể chủ tŕ các Pháp thoại mà không bị quấy nhiễu và dành hết th́ giờ giáo giới chư Tỳ-kheo, nên hàng chục bài kinh đă được ngài thuyết giảng tại đây. Có hai hang động thiên nhiên ở sườn bắc núi này, động lớn được gọi là Động Lợn Rừng, các hang này che chở chư vị những lúc băo tố và có thể ở tạm ban đêm lúc khẩn thiết.

 

Trong mùa an cư thứ hai tại Thành Vương Xá, đức Phật có hai mối kỳ ngộ chứng tỏ tầm quan trọng và giá trị đối với ngài cùng Tăng chúng. Đó là cuộc gặp gỡ y sĩ J́vaka (Kỳ-bạt) và trưởng giả Cấp Cô Độc (Cấp Cô Độc).

 

Ngự y J́vaka Komàrabhacca (Kỳ Bạt) , mà theo lời đồn đại, vị này là con của một kỹ nữ giàu sang trong thành Vương Xá đă bỏ rơi con ḿnh sau khi sinh. Cũng theo lời đồn, một vương tử đă t́m thấy hài nhi và nuôi đến trưởng thành (Mv 8. 1. 3-4). Vị này đă học y khoa bảy năm tại Đại học lừng danh Takkaśla (Skt: Taksaśla) (Mv 8.1.6) và trở thành nổi tiếng nhờ nhiều cách điều trị thần kỳ. Vị này vừa mới chữa cho vua Tần Bà Sa La khỏi bệnh âm sàng, sau đó nhà vua bổ nhiệm chức ngự y thường trực của ḿnh kiêm thái y chính thức của các vương phi. Rồi sau này là cho cả Tăng chúng của đức Phật (Mv 8. 1. 13-15).

 

Từ đó y sĩ J́vaka hoan hỉ đảm trách nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cho Tăng chúng mặc dù việc đó làm vị y sĩ bận rộn rất nhiều mà không nhận thù lao ǵ cả. Việc bổ nhiệm J́vaka làm y sĩ của Tăng chúng khiến nhiều người có đủ thứ tật bệnh khác nhau xin gia nhập Giáo hội làm Tỳ-kheo với mục đích được vị danh y này chữa trị miễn phí! V́ vậy y sĩ J́vaka thỉnh cầu đức Phật không chấp thuận các người bệnh được thọ giới. Bậc Đạo Sư nhận lời đề nghị này và đưa ra những huấn thị thích hợp. (Mv 1. 39. 5-7)

 

V́ thấy đức Phật thường đến viếng Vườn Xoài trên, vị y sĩ suy đoán là đức Phật đặc biệt thích cảnh này nên đă dâng cúng bậc Đạo Sư Vườn Xoài J́vaka.

 

Một đệ tử tại gia xuất sắc thứ hai tự tuyên thệ làm người hộ pháp vừa là thân hữu của đức Phật cũng trong năm 526 trước CN ấy là Sudatta Anàthapindika, Tu-đạt Cấp Cô Độc, như ông thường được gọi v́ tính ông bố thí hào phóng cho người cô độc. Ông sinh trưởng ở Thành Xá Vệ và kết hôn với em gái của một thương gia thành Thành Vương Xá. Là người buôn bán vàng trở thành đại phú nhờ nghề này, ông thuộc thành phần lănh đạo ngành này ở Thành Xá Vệ, là chủ tịch nghiệp đoàn, đến thành Thành Vương Xá để lo công việc với người em vợ.

Ông rất kinh ngạc nh́n thấy mọi sự chuẩn bị long trọng linh đ́nh trong nhà em vợ để cúng dường đức Phật và Tăng chúng ngày hôm sau. Ḷng đầy hiếu kỳ về người mang danh hiệu được tôn vinh là một đức Phật, một bậc Giác Ngộ, ông không ngủ được đêm ấy và thức dậy trước lúc tinh sương để đi t́m đức Phật. Lúc ấy bậc Đạo Sư tạm trú trên vùng nghĩa địa hỏa táng Śtavana (Thanh Lâm: Rừng Mát) và đă thức dậy. Ngài đang đi kinh hành để hưởng khí mát lạnh ban mai, chẳng bao lâu cuộc đàm đạo càng thêm hứng khởi, qua đó đức Phật thuyết cho ông Cấp Cô Độc nghe bài Pháp thuận thứ. Bằng cách phát nguyện Tam quy, ông tuyên thệ xin làm cư sĩ tại gia và cung thỉnh đức Phật đến thọ thực ngày hôm sau (Cv 6. 4. 1-5).

 

Buổi cúng dường này cũng diễn ra tại nhà em vợ ông ở Thành Vương Xá và chấm dứt với lời ông cung tặng đức Phật cùng Tăng chúng một nơi an cư mùa mưa ở Thành Xá Vệ. Điều kiện duy nhất đức Phật yêu cầu là một nơi an cư như vậy phải ở trong một vùng biệt lập (Cv 6. 4. 7)

 

Khi trở về Thành Xá Vệ, ông Anàthpindika lập tức đi t́m một khu đất thích hợp. Ông t́m được ngự viên của vương tử Jeta, hoàng nam của Đại Vương Ba Tư Nặc Kiều Tất La (Kiều Tất La). Tuy nhiên, vương tử Jeta không muốn nhượng bớt tài sản nên nói thách là nếu ông trải vàng tới đâu th́ bán đất cho ông đến đó. Không ngờ, trưởng giả đem vàng đến trải thật. Vương tử Kỳ Đà vẫn không chịu bán nên sự việc được đưa ra phán xét ở Đại Pháp quan. Đại Pháp quan xử ông Cấp Cô Độc thắng kiện theo lời thách thức, nhưng vương tử Kỳ đà chưa chịu thua và ông lư luận là: các gốc câykhông bị vàng trải lấp th́ vẫn là của ông. Vậy là, đất th́ bán, cây trong vườn vẫn của Vương tử. Về sau, khi biết ông Cấp cô độc mua để cúng dường Đức Phật, vương tử Kỳ Đà đă hồi ư và đồng ư cúng dường số cây trong vườn. Từ đó, vườn mang tên Kỳ Đà Cấp Cô Độc.

 

Một hôm, chúng Tăng thọ thực tại nhà ông Cấp Cô Độc và câu chuyện sau đây diễn ra:

Ông Cấp Cô Độc: Bạch Thế Tôn, chúng con sẽ phải sắp đặt mọi việc ở Kỳ Viên như thế nào?

Đức Phật: Hăy sắp đặt nơi đây cho Tăng chúng từ bốn phương trời, cả hiện tại lẫn tương lai nữa.

Ông Cấp Cô Độc: Lành thay, bạch Thế Tôn. (Cv 6. 9)

Lúc ấy ông không làm lễ rót nước lên tay chính thức chuyển nhượng quyền sở hữu chủ, mà chỉ có lễ trao quyền sử dụng Kỳ Viên cho Tăng chúng, nhưng nhờ câu đối đáp khôn khéo của đức Phật, nơi này tiếp tục tồn tại thật lâu dài sau khi ngài diệt độ. Ông Cấp Cô Độc vẫn là sở hữu chủ hợp pháp của Kỳ Viên, nơi mà ông trao quyền tùy nghi sử dụng vào tay Giáo đoàn đức Phật như một vật cho mượn vĩnh viễn.

11 năm sau, từ 508 trước công nguyên trở đi  Đức Phật nhập hạ tại Kỳ Viên Tịnh Xá do ông Cấp Cô Độc xây trong vường Kỳ Đà Cấp Cô Độc tổng cộng 18 hạ. 6 hạ nữa ngài cũng ở thành Xá Vệ nhưng nhập hạ tại Đông Viên Tinh Xá (Pubbàràma) cũng ở Thành Xá Vệ, một ngôi nhà do nữ cư sĩ hào phóng Visàkhà Migàramàtà (Tỳ-xá-khư Lộc Mẫu) cúng dường.

Đại Vương Ba Tư Nặc nước Kiều Tất La, người vào độ tuổi bằng đức Phật cũng tuyên thệ làm đệ tử tại gia của đức Phật bằng cách phát nguyện Tam Quy.

Cũng giống như việc vua Tần Bà Sa La công nhận Giáo Pháp đă khởi đầu sự thành tựu đột phá trong việc truyền đạo ở quốc độ Magadha (Ma Kiệt Đà), tin "Đại Vương Ba Tư Nặc quy y Giáo Pháp của Sa-môn Gotama" lan rộng nhanh như ngọn lửa rừng, chẳng bao lâu đến tận các nước cộng ḥa chư hầu, gồm cả xứ sở của bộ tộc Sakiya (Thích Ca) nữa. 

 

TÓM LƯỢC LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT

LIÊN QUAN ĐẾN PHẬT TÍCH

Oval: Về Trang trước
Oval: Trang Tiếp Theo
Oval: Về phần Thành Xá Vệ

Trên 24 Năm chuyên trách hành Hương Phật tích Ấn Độ, Nepal