ĐỨC PHẬT VỀ THĂM QUÊ HƯƠNG LẦN ĐẦU.

 

Giữ đúng lời hứa với tôn giả Ưu Đà Di, đức Phật khởi hành trở về Ca Tỳ La Vệ ngay khi RA HẠ tại thành Vương Xá. Ngài không du hành một ḿnh: tôn giả Xá Lợi Phất và một số Tỳ-kheo khác theo hầu ngài. Cách ngài năm bảy bước phía trước là một số môn đồ trung kiên tiên phong mở đường và bảo vệ ngài khỏi bị đám người bàng quan quấy nhiễu, và phía sau ngài là đám Tỳ-kheo c̣n lại. Ngài đi chân trần và không chống gậy. Ở cổ Ấn Độ, gậy được xem là khí giới nên đức Phật không dùng chúng.

 

Theo phong tục, đức Phật nay đă là một Sa-môn khất sĩ nên không thể đến viếng Quốc Vương Tịnh Phạn nếu chưa được thỉnh cầu. Ngài liền tạm trú tại Nigrodhàràma (Ni-câu-luật Viên: Rừng Cây Đa), một nơi ở phía trước kinh thành thường được các Sa-môn khổ hạnh văng lai, vốn có nhiều gốc đa cổ thụ (nigrodha: Ficus Bengalensis) với những cḥm rễ dài lủng lẳng trên không tạo thành một khu rừng nhiều cây cao bóng mát đón mời du khách. Ngay lúc ấy quốc vương chưa được tâu tŕnh việc hoàng tử của ngài vừa đến nơi. Chỉ vừa tảng sáng hôm sau, khi dân chúng đă thấy vị thái tử Siddattha trước kia mang b́nh bát đi khất thực trên các đường phố trong kinh thành, Quốc Vương Tịnh Phạn mới được cấp báo việc này.

 

Theo thong lệ, nhà vua cùng quần thần ra rừng đa cung đón đàon khất sĩ, tuy nhiên, cuộc nói chuyện đầu tiên giữa hai cha con không diễn ra êm thắm mấy. thậm chí Vua Tịnh Phạn khiển trách con ḿnh đă tự làm mất danh giá khi đi khất thực trong quê hương ḿnh trước mắt mọi người. Đức Phật nói rằng truyền thống Sa-môn là sống nhờ khất thực và chư Phật quá khứ cũng đă làm như vậy.

 

Khi đức Phật đến thăm hoàng cung của vua cha lần thứ hai, Công chúa truyền đưa con trai của hai vị là La Hầu La (La-hầu-la) bấy giờ đă lên tám, đến và dặn: "Này La Hầu La, ngài là cha của con đấy. Con hăy đến xin ngài cho con phần tài sản của con". Cậu bé La Hầu La làm theo lời mẹ dạy. Cậu đến cung kính đảnh lễ đức Phật rồi đợi cho đến khi ngài rời cung, cậu đi theo ngài và thưa: "Bạch Sa-môn, xin cho con phần tài sản của con". Phản ứng của đức Phật vừa uy nghiêm cao thượng vừa công hiệu biết bao. Ngài ra lệnh cho tôn giả Xá Lợi Phất nhận cậu bé làm Sa-di ngay lập tức tại chỗ. Như vậy tôn giả Xá Lợi Phất trở thành vị giáo thọ của vương tôn La Hầu La.

 

Quốc Vương Tịnh Phạn không thể nào nguôi ḷng khi nghe tin nay vương tôn của ngài cũng đă bị đưa ra khỏi gia đ́nh, vội van xin bậc Đạo Sư đừng bao giờ truyền giới cho ai xuất gia làm Sa-di (pabbajà) mà không được cha mẹ chấp thuận. Bậc Đạo Sư chỉ hứa làm theo lời thỉnh cầu ấy trong các trường hợp về sau mà không áp dụng với La Hầu La. (Mv 1. 54)

 

Tại thành Ca Tỳ La Vệ, chỉ một số ít người tin theo Giáo Pháp ngài. Dân chúng thành Ca Tỳ La Vệ vẫn c̣n ghi trong trí những h́nh ảnh quá sinh động của vị vương tử được nuông chiều thuở trước nên chưa thể nào tin tưởng vào vị trí của đức Phật, một bậc "Giác Ngộ" ngày nay. Họ lại cần có một sự thận trọng về chính trị đối ngoại nữa. Lúc ấy họ vẫn chưa biết chắc Đại Vương Ba Tư Nặc nước Kiều Tất La ngự tại thành Xá Vệ Thành vừa là chúa tể tối cao của cộng ḥa Sakiya, sẽ nh́n giáo phái mới này ra sao.

 

Một vị trong ḍng Sakiya được thọ giới Tỳ-kheo có lẽ c̣n trước cả việc vương tôn La Hầu La thọ Sa-di giới, là Nanda Gotama (Nan-đà), em khác mẹ của thái tử Sĩ Đạt Đa, tức con trai vua Tịnh Phạn và bà kế mẫu Maha Ba Xà Ba Đề. Theo Kinh Điển, thái tử đă thuyết phục hoàng đệ Nanda trở thành Tỳ-kheo và vị này miễn cưỡng nhận lời do ḷng kính trọng vị hoàng huynh chỉ lớn hơn ḿnh chừng vài ngày!. Vương tử Nanda, ít ra là thời gian đầu, không hoàn toàn phù hợp với đời khất sĩ. Đức Phật đă phải giáo hóa ngài bằng cách ca ngợi các đức tính của tôn giả, nhưng lại theo một phương thức khéo léo là trong lúc vừa tán thán, ngài vừa vạch ra một đường lối tu tập cho tôn giả Nanda: như pḥng hộ các căn (giác quan), tiết độ trong ẩm thực, chú tâm cảnh giác đối với thân tâm và nhất là từ bỏ mọi xúc động trong tâm tư t́nh cảm (A.N 8.9). Sự giáo giới này thật cần thiết v́ tôn giả Nanda có diện mạo khôi ngô tuấn tú, lại thường mang nặng những mơ tưởng ái t́nh và c̣n toan tính chuyện cởi bỏ y vàng rồi hoàn tục nữa. Măi đến khi bậc Đạo Sư chỉ rơ cho tôn giả thấy dung sắc xoàng xĩnh của cô vợ cũ yêu quư là Janapadakalyàń, tôn giả mới bắt đầu nghiêm chỉnh tu tập bản thân theo luật Sa-môn. Ngay cả vị này về sau cũng đắc quả A-la-hán. (Ud 3.2)

 

Đức Phật c̣n truyền giới thêm bảy vị Thích-ca nữa, không phải ở quê nhà Ca Tỳ La Vệ mà ở Anupiyà, một nơi trong cộng ḥa Malla, đất nước ngài ghé ngang qua trên đường sau khi tham viếng quê hương là kinh thành Ca Tỳ La Vệ về. Bảy vị này trước kia đă rời kinh đô của bộ tộc Thích-ca để trở thành nhóm Sa-môn khất sĩ sống riêng lẻ. Nhưng khi chư vị gặp đức Phật ở Anupiyà, chư vị cảm thấy chấp nhận sự hướng dẫn của ngài th́ hợp lư hơn là tự ḿnh đi t́m chân lư cho ḿnh.

 

Người đầu tiên trong nhóm này được đức Phật thu nhận là Upàli (Ưu-ba-li), trước đây làm nghề cắt tóc (Cv.7.1.1-4), một người tầm thường ở địa vị thấp kém mà không ai ngờ lại có thể trở thành một chuyên gia xuất sắc về giới luật và qui tắc xử sự trong Tăng chúng. Hai vị nữa là Anuruddha (A-na-luật) và Ànanda (A-nan), em họ của đức Phật, các nam tử cùng cha khác mẹ của hoàng thân Amitodana, em trai phụ vương ngài. Cả hai vị đều nổi tiếng về ḷng tận tụy trung thành đặc biệt đối với đức Phật. Các vị c̣n lại là Bhagu (Bạt-cù), Kimbila (Kim-tỳ-la) và Devadatta (Đề-bà-đạt-đa). Vị sau cùng cũng là em họ của đức Phật, hoàng tử của vua Suppabuddha (Thiện Giác), em trai mẫu hậu ngài và là anh của công chúa Bhaddakaccànà tức vợ cũ của ngài. Nhân vật danh tiếng nhất trong bảy vị này là Bhaddiya, con trai của bà Kàligodhà, "Hắc nữ Godhà", vị nữ tộc trưởng của các phu nhân ḍng Thích-ca giữ địa vị quả phụ thừa kế.

 

Từ Anupiyà, chuyện kể rằng cuộc hành tŕnh tiếp tục đến Kosamb́, thủ đô nước Vamsà (Cv 7.2.1), nơi đó bậc Đạo Sư cùng chư vị hộ tống cư trú tại vườn của triệu phú thương Ghosita (Cù-sư-la). Khu vườn này mở rộng đón các du sĩ của mọi tông phái. Một thời gian sau, vị này cung tặng ngài khu vườn ấy, vào dịp đến thành Xá Vệ Thành để buôn bán cùng nghe đức Phật thuyết Pháp và trở thành đệ tử ngài.

 

TÓM LƯỢC LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT

LIÊN QUAN ĐẾN PHẬT TÍCH

Oval: Về Trang trước
Oval: Trang Tiếp Theo
Oval: Về Lại Ca Tỳ La vệ

Trên 24 Năm chuyên trách hành Hương Phật tích Ấn Độ, Nepal