GIÁO HÓA VUA TầN BÀ SA LA (TẦN BÀ SA LA)

 

Nhớ lại lới ước hẹn của ḿnh với vua Tần Bà Sa la, Đức Phật trở lại thành Vương Xá để hóa độ cho nhà vua. Thành Vương Xá cách Patna 70km về phía tây nam gần một thị trấn nhỏ hiện nay ở Ràjgir, xưa kia là kinh đô hùng mạnh nhất ở bắc Ấn sau Xá Vệ Thành, kinh đô của nước Kiều Tất La. Tầm quan trọng của nó chỉ mới nổi bật lên vào thời đó chính là nhờ vua Tần Bà Sa La đă mở rộng cổ thành Giribbaja (Đa Sơn) và nâng nó lên vị trí kinh đô Thành Vương Xá (Vương Xá).

 

Ngay khi đức Phật và Tăng chúng của ngài, trong ấy có ba anh em tôn giả Kassapa cùng các vị khổ hạnh bện tóc trước kia là môn đồ chư vị, vừa đến Thành Vương Xá và nghỉ ngơi tại Latthivana (Trượng Lâm) ở phía tây nam kinh thành, vua Tần Bà Sa La được tŕnh tấu: "Sa-môn Gotama, nam tử của ḍng Thích-ca" đă đến, liền lập tức khởi hành cùng đại chúng quần thần, Bà-la-môn, gia chủ, tùy tùng và vệ binh về phía khu rừng để chào mừng vị quốc khách. Đám quần thần của nhà vua không biết chắc ai là Đạo Sư của đoàn, Sa-môn Gotama hay Uruvela Kassapa, nên đức Phật đặt ra một cách vấn đáp với tôn giả Kassapa. Tôn giả Ca Diếp theo đó, thuật lại sự giác ngộ của ḿnh đối với Đức Phật. Sau khi nói xong những lời này, tôn giả Uruvelà Kassapa liền quỳ xuống đảnh lễ đức Phật và tuyên bố: "Đức Thế Tôn là Đạo Sư của con! Con là đệ tử của ngài! Đức Thế Tôn là Đạo Sư của con! Con là đệ tử của ngài!". (Mv 1.22.6)

 

Sự đảnh lễ quy ngưỡng của đại trưởng lăo Kassapa đối với vị trí lănh đạo tinh thần của Sa-môn Gotama ở thời điểm ấy đă gây nhiều ấn tượng mạnh đối với nhà vua và quần thần. Đức Phật nắm ngay cơ hội thuận lợi để giáo hóa v́ giờ đây mọi sự chú ư đều đổ dồn về phía ngài. Ngài thuyết bài Pháp thuận thứ cho cả hội chúng, sau đó tất cả những người hiện diện gồm luôn nhà vua đều tự nguyện làm đệ tử tại gia của ngài (Mv 1. 22. 8).

 

Sau đó nhà vua thỉnh cầu đức Phật cùng chúng Tăng thọ trai ngày hôm sau. Sáng hôm sau, vua Tần Bà Sa La tự thân phục vụ đức Phật và Tăng chúng _ một vinh dự lớn lao hiếm khi được dành cho ai. Song nhà vua c̣n để dành một ngạc nhiên đầy kỳ thú hơn nữa: nhà vua tuyên bố cúng dường một tặng vật lên "Tăng chúng với đức Phật là bậc thượng thủ", đó là ngự viên Trúc Lâm Tịnh Xá (Trúc Lâm), nằm ngay trước Bắc môn thành Thành Vương Xá, để bậc Đạo Sư có thể an cư tại đó cũng gần kinh thành, nhưng lại ở trong một vùng yên tĩnh, dễ ra vào cho khách văng lai, mà cũng tiện ẩn dật.

 

Việc qui y thành tâm của vua Tần Bà Sa La khiến hàng ngân dân chúng tại thành Vương Xá noi theo, tạo nên một tăng đoàn bước đầu đông đảo của Phật giáo.


THU PHỤC
TÔN GIẢ XÁ LỢI PHẤT VÀ MỤC KIỀN LIÊN TRỞ THÀNH CÁC ĐỆ TỬ TẠI THÀNH VƯƠNG XÁ

 

Một vị lănh đạo giáo phái lừng danh khác ở kinh đô của vua Tần Bà Sa La là Sañ jaya. Giữa đám môn đệ của vị này, tương truyền đă lên đến hai trăm năm mươi vị (Mv 1. 23.1), có hai vị cao đồ đặc biệt tài giỏi là đôi thân hữu Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên.

 

Nhà tôn giả Xá Lợi Phất ở làng Nàlaka (nay là Sarichak) gần Thành Vương Xá, thuộc gia tộc Bà-la-môn Upatissa. Ngài có ba anh em trai Cunda, Upasena và Revata và ba chị em gái. Thân phụ ngài là Vanganta và thân mẫu là Rùpasàŕ. Ngài được gọi theo tên mẹ, Xá Lợi Phất (Xá-lợi Tử).

 

C̣n tôn giả Mục Kiền Liên thường được gọi là Kolita v́ ngài sinh trưởng ở làng Kolitagàma cạnh làng Nàlaka, lại đồng tuổi với tôn giả Xá Lợi Phất nên hai vị vẫn chơi chung với nhau từ thuở thơ ấu. Thân mẫu ngài là Moggallàń nên ngài được đặt tên theo mẹ, thuộc giai cấp Bà-la-môn, trong khi thân phụ ngài là lư trưởng làng Kolitagàma thuộc giai cấp vơ tướng (Sát-đế-lỵ) vào thời ấy được xem là giới thượng lưu. Truyện kể rằng đôi bạn này đă quyết định đến dự đại lễ hội hằng năm trên đỉnh núi -  để trở thành các Sa-môn khất sĩ theo đạo sư Sañ jaya. Hai vị hứa hẹn rằng nếu ai trong hai vị đạt tuệ giác trước th́ sẽ dạy cho người kia.

 

Chính trong thời gian làm đồ đệ của đạo sư Sañ jaya, tôn giả Xá Lợi Phất đi khất thực ở thành Thành Vương Xá, gặp gỡ Tỳ-kheo Assaji (Mă Thắng) là một trong năm vị Tỳ-kheo đầu tiên ở đời này. Tôn giả Xá Lợi Phất chú ư ngay dáng điệu cao quư và an tịnh của vị Tỳ-kheo lạ mặt này, nên tôn giả đợi cho đến khi Tỳ-kheo Assaji đi khất thực xong rồi mới thăm hỏi ai là bậc Đạo Sư của vị ấy. Vị Tỳ-kheo đáp ḿnh chính là môn đồ của vị Sa-môn thuộc bộ tộc Sakiya, và tôn giả Xá Lợi Phất lại hỏi về Giáo Pháp của bậc Đạo Sư. Mặc dù đă đắc A-la-hán (theo Mv 1. 6. 47), Tỳ-kheo Assaji vẫn không thể tŕnh bày đầy đủ Giáo Pháp. Tôn giả bảo ḿnh mới thọ giới, chỉ vừa tuân hành Giáo Pháp đức Phật một thời gian ngắn, nhưng cũng có thể tŕnh bày sơ lược nội dung. Rồi tôn giả phát biểu vần thi kệ lừng danh sau:"Bất cứ vật ǵ chịu quy luật sinh khởi (ví dụ: con người hiện hữu với nỗi khổ đau) đều phải chịu quy luật đoạn diệt"

 

Tôn giả Xá Lợi Phất, với tài trí thông minh phân tích và lư luận triết học vẫn thường được tán dương từ lâu nay, lập tức thấu hiểu ư nghĩa câu nói này. Điều này có nghĩa là nếu không tạo nguyên nhân để tái sanh đời sau, th́ người ấy có thể thăng tiến đến trạng thái đoạn diệt, tức Niết-bàn. Tâm bừng ngộ nhờ tuệ giác này, tôn giả vội vàng đi đến thân hữu Mục Kiền Liên để truyền cho bạn chân lư mới này (Mv 1. 23. 5-6).

 

Tôn giả Mục Kiền Liên, một thiền giả đặc biệt có tài năng, cũng quán triệt ư nghĩa tinh nhanh không kém bạn, nên tôn giả đề nghị cả hai nên đi ngay đến gặp đức Phật và xin làm đệ tử ngài. Tuy nhiên, tôn giả Xá Lợi Phất từ chối v́ trước tiên hai vị phải cùng đi hỏi ư kiến đạo sư Sañ jaya và các Sa-môn đồng bạn. Thế rồi hai vị đều làm như dự định và các vị Sa-môn đồng tu liền tuyên bố sẵn sàng đi đến yết kiến đức Phật.

 

Để níu kéo đệ tử, đạo sư Sañ jaya, cam kết là nếu hai vị ở lại, hai vị sẽ được phân quyền lănh đạo giáo phái nhưng Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên từ chối lời đề nghị trên và ra đi. Vậy là tất cả môn đồ của ngài Sañ jaya cũng đi theo đến gặp Phật tại Trúc Lâm Tinh xá. Rồi họ thỉnh cầu đức Phật nhận vào Tăng đoàn, đạo sư Sañ jaya thất vọng đến độ hộc máu mồm.

 

Đôi bạn thân hữu được đức Phật truyền giới Tỳ-kheo (Mv 1. 24) và chẳng bao lâu đều đắc quả A-la-hán: tôn giả Mục Kiền Liên chỉ trong một tuần và tôn giả Xá Lợi Phất vào tuần sau. Cả hai vị đều trở thành hai đại đệ tử của đức Phật.

 

Không lâu sau khi hai tôn giả này trở thành Tỳ-kheo trong Tăng chúng, đức Phật tiếp một người khách từ quê nhà Ca Tỳ La Vệ. Đây là tôn giả Ưu Đà Di, tức Hắc Nhân Udàyin (Ưu-đà-di), như vẫn thường được gọi v́ màu da đen của vị ấy. Tôn giả là bạn từ thời thanh niên của đức Phật, được quốc vương Tịnh Phạn phái đi t́m vương tử của ngài và thuyết phục đức Phật về thăm kinh thành Ca Tỳ La Vệ.

 

Với tài khéo léo của ḿnh, Ưu Đà Di thi, Tôn giả gia nhập Tăng chúng và do vậy dễ tiếp cận đức Phật bất cứ lúc nào. Quả thật đức Phật đă đồng ư để cho tôn giả thuyết phục về thăm quê. Ngài hứa với tôn giả rằng ngài sẽ viếng kinh thành Ca Tỳ La Vệ sau hạ an cư tại Thành Vương Xá này. Tôn giả Ưu Đà Di vô cùng hoan hỉ, vội vàng trở về Ca Tỳ La Vệ mang tin lành tŕnh Quốc vương Tịnh Phạn.

 

Nhập hạ thứ 2  TẠI THÀNH VƯƠNG XÁ

 

Bậc Đạo Sư đưa ra một loạt huấn thị để dạy chư vị ấy biết giữ phép xă giao nhă nhặn. Ngài truyền chư Tỳ-kheo phải đắp y đúng luật Sa-môn, cư xử khiêm tốn trước các thí chủ và thọ thực trong im lặng (Mv 1. 25. 5).

 

Những trường hợp bất kính đối với các vị thầy giáo huấn lớp tân Tỳ-kheo cũng khiến ngài ban hành các giới luật về vấn đề này nữa. Ngài truyền lệnh các Tỳ-kheo phải vâng lời dạy của vị giáo thọ (Mv 1. 25. 8), phải chăm sóc y phục của thầy giáo (Mv 1. 25. 10 + 23), phải rửa sạch b́nh bát (Mv 1. 25. 11) và lau chùi sàng tọa của thầy nữa (Mv 1. 25. 19).

 

Các thị giả hầu cận của Đức Phật vẫn thường thay đổi luôn cho đến năm thứ hai mươi trong quăng đời hoằng Pháp của đức Phật, tôn giả Ànanda, em họ ngài, mới giữ chức vụ này và tận tụy hết ḷng hầu hạ bậc Đạo Sư cho đến lúc ngài nhập Niết bàn. 

 

TÓM LƯỢC LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT

LIÊN QUAN ĐẾN PHẬT TÍCH

Oval: Về Trang trước
Oval: Trang Tiếp Theo

Trên 24 Năm chuyên trách hành Hương Phật tích Ấn Độ, Nepal