Tứ diệu đế - Phật sơ chuyển Pháp Luân tại Vườn Nai - thành Ba La Nại

Sau khi thành đạo, ngài suy xét xem nên giảng Pháp đầu tiên cho người nào, đức Phật nghĩ ngay đến 2 vị thầy mà ngài đă từng theo học là A La La Ca Lam và Uất Đầu Lam. Khi biết rằng cả hai đều từ trần, ngài liền nghĩ đến năm anh em nhà Kiều Trần Như, mà ngài biết bấy giờ chư vị đang trú tại Lộc Uyển (Vườn Nai) ở gần Benares (Ba-la-nại). Ngài biết chư vị ấy sẽ nhanh chóng thông hiểu giáo lư. Trong niềm hân hoan chiến thắng v́ đă có sẵn phương tiện độ sanh trong tay, cùng quyết định dâng trọn đời ḿnh cho sứ mạng cao cả này, ngài khởi hành đến Benares (Ba La Nại—280 Kms từ Bồ Đề Đạo Tràng)

Chữ Sarnath không có trong văn chương Pali hay Sanskrit. Chính ra chữ Sarnath, có nghĩa là vị vua của loài lộc, sau gọi tắt là thành Sarnath. Kinh Pàli thường dùng chữ Migadàya hay Isipatana (Chư tiên đọa xứ), Lộc uyển, là chỗ Vua Ba-la-nại để cho loài lộc được sống tự do, không ai được săn bắn giết hại. V́ vậy, chỗ này trở nên lư tưởng cho những vị ẩn sĩ muốn xa lánh thành thị.

Trên đường đến Ba La Nại, ngài gặp một du sĩ lơa thể là A Tỳ Bà Ca, phái chủ trương thuyết định mệnh cực đoan. Vẻ hân hoan nội tâm tỏa ra trên khuôn mặt sáng chói của ngài khiến vị này chú ư và hỏi ai là Đạo Sư của ngài và Giáo Pháp ngài như thế nào. Đức Phật đầy tự tin tuyên bố ngài đă được giải thoát nhờ ái diệt, ngài là vị thắng giả chiến trường, v́ vậy ngài không có Đạo Sư, mà chính ngài là bậc Đạo Sư. Nghe điều này, Upaka cũng không cảm phục và nói: "Có thể là như vậy, thưa hiền giả" rồi lắc đầu rẽ vào một con đường khác bên cạnh.

Năm anh em Nhà Kiều Trần như – lúc bấy giờ thật bất măn khi thấy Sa-môn Cồ Đàm va có ư coi thường ngài. Quả thật chư vị đă đồng ḷng không chào hỏi cũng không đứng lên đảnh lễ ngài. Song khi ngài đến gần, chư vị đă bị chinh phục trước vẻ cao quư của một bậc giải thoát khiến chư vị đều cư xử với ngài vô cùng kính cẩn. Không I bảo ai, người cầm b́nh bát, người nhận y, người sửa soạn chỗ ngồi cho ngài, rửa chân ngài và gọi ngài là "Hiền giả" theo thói quen cũ. Song đức Phật bác bỏ cách xưng hô này:

"Này các Tỳ-kheo, đừng gọi Như Lai (Tathàgata: Bậc Đến Như Vậy) là "Hiền giả" (như một trong các vị). Này các Tỳ-kheo, Như Lai là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác".

Lời tuyên bố đă khám phá con đường đưa đến Bất Tử tức con đường Giải thoát, đă Giác Ngộ Chân Lư và chứng đắc Pháp (Dhamma) của ngài lúc ấy được năm nhà tu khổ hạnh, bạn đồng tu cũ, đáp lại với vẻ hoài nghi. Chư vị hỏi, làm thế nào một người đă từ bỏ khổ hạnh để chọn đời sống sung túc lại có thể chứng đắc Chân Lư? Đức Phật giải thích rằng ngài chẳng hề tham đắm đời sống sung túc, và để làm sáng tỏ mọi việc, ngài thuyết giảng một bài kinh (sutta) cho chư vị, bài kinh danh tiếng Chuyển Pháp Luân, khởi đầu sự nghiệp hoằng Pháp của ngài. Bài kinh tŕnh bày Pháp (Dhamma) là Trung Đạo, và nêu lên hệ thống Bốn Chân Lư: đó là một căn bản hợp lư chứa đựng đầy đủ các lời dạy tinh vi:

"Có hai cực đoan, này các Tỳ-kheo, mà người xuất gia không nên hành tŕ. Đó là hai cực đoan nào? (Một mặt) đắm ḿnh vào dục lạc, thấp kém, tầm thường, hạ liệt, không xứng đáng bậc Thánh, không ích lợi. (Mặt khác) chuyên tâm khổ hạnh ép xác, gây khổ đau, không xứng đáng bậc Thánh, và cũng không ích lợi.

Này các Tỳ-kheo, Như Lai đă tránh xa hai cực đoan này, và t́m ra Trung Đạo chính là con đường khiến cho ta thấy và biết (tác thành nhăn và trí), con đường đưa đến an tịnh, thắng trí, Giác Ngộ, Niết-bàn.

1. Này các Tỳ-kheo, đây là Thánh đế về Khổ (Dukkha): sanh là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, sầu, bi, khổ, ưu, năo là khổ; thân cận những ǵ ta không thích là khổ, xa ĺa những ǵ ta thích là khổ, cầu không được là khổ; tóm lại, ngũ thủ uẩn (tạo thành một cá nhân sống thực) là khổ.

2. Này các Tỳ-kheo, đây là Thánh đế về Nguồn gốc của Khổ (Samudaya): Đó chính là khát ái (tanhà) đưa đến tái sanh, câu hữu với hỷ và tham, t́m thấy lạc thú chỗ này chỗ kia: đó là Dục ái (Kàmatanhà), Hữu ái (bhavatanhà) và Phi hữu ái (Vibhavatanhà).

3. Này các Tỳ-kheo, đây là Thánh đế về Khổ Diệt (Nirodha) chính là sự đoạn trừ, diệt tận hoàn toàn khát ái đó, quăng bỏ nó, chấm dứt nó, xả ly nó, không chấp thủ nó.

Này các Tỳ-kheo, đây là Thánh đế về Con Đường đưa đến Khổ Diệt (Magga). Đó là Bát Chánh Đạo:

Chánh Kiến (Sammà-Ditthi) 
Chánh Tư duy (Sammà-Sankappa) 
Chánh Ngữ (Sammà-Vàcà) 
Chánh Nghiệp (Sammà-Kammanta) 
Chánh Mạng (Sammà-Àj́va) 
Chánh Tinh tấn (Sammà-Vàyàma) 
Chánh Niệm (Sammà-Sati) 
Chánh Định (Sammà-Samàdhi)

Năm vị tôn giả hết sức chú tâm lắng nghe lời ngài, và ngay khi ngài thuyết giảng, tôn giả Kiều Trần Như đă quán triệt Giáo Pháp: "những ǵ chịu qui luật sinh khởi đều phải chịu qui luật hoại diệt". Sau đó, tôn giả liền xin đức Phật nhận làm đệ tử và đức Phật lấy phương ngôn: "Đến đây, này Tỳ-kheo, Giáo Pháp đă được khéo giảng, hăy sống đời Phạm hạnh (thanh tịnh) để đoạn tận khổ đau" để nhận tôn giả làm một Tỳ-kheo.

Như vậy tôn giả Kiều Trần Như là vị Tỳ-kheo đầu tiên trong lịch sử Phật giáo, và sự thọ giới của tôn giả đánh dấu khởi điểm của Tăng đoàn (Sangha) tồn tại cho đến ngày nay.

heo Đức Phật và Phật Pháp của Ḥa Thượng Narada, năm vị đệ tử đầu tiên của Đức Phật là những vị Kiều Trần Như, Bạt Đề (Bhaddiya), Thập Lực Ca Diếp (Dasabala-Kasyapa), Ma Nam Câu Lợi (Mahanama), và Át Bệ (Assaji). Kiều Trần Như là vị trẻ tuổi nhất trong tám vị Bà La Môn được vua Tịnh Phạn thỉnh đến dự lễ quán đảnh và đặt tên cho Thái Tử sơ sanh. Bốn người kia là con của bốn trong bảy vị Bà La Môn lớn tuổi c̣n lại. Chẳng bao lâu lời dạy của đức Phật đă khiến cho tôn giả Thập Lực Ca Diếp (Vappa) và Bạt Đề (Bhaddiya) hiểu Pháp (Dhamma) và hai vị cũng được nhận làm Tỳ-kheo. Trong lúc chư Tỳ-kheo (nghĩa đen là Khất sĩ) Kiều Trần Như, Thập Lực Ca Diếp và bạt Đề đi khất thực để cung cấp thức ăn cho cả nhóm, bậc Đạo Sư thuyết giảng riêng cho tôn giả Ma Nam Câu Lợi (Mahànàma) và Át bệ (Assaji). Trong chốc lát, chư vị cũng đắc tri kiến cần thiết và xin thọ giới. như vậy đă có sáu Tỳ-kheo trên thế gian - đức Phật và năm đệ tử của ngài.

Vài ngày sau lễ thọ giới của năm vị đệ tử, đức Phật dạy chư vị bài Pháp về Vô Ngă và ư tưởng này thực sự gây kinh ngạc trong mọi người v́ khác với hệ thống giáo lư hướng về thần linh lúc đó, giáo lư mới của Đức Phật phủ nhận sự hiện hữu của linh hồn. Điều này chứng tỏ đức Phật đă phát triển phương diện triết lư Thập Nhị Nhân Duyên trong Pháp của ngài từ khi Thành Đạo.

Kinh Vô Ngă Tướng bắt đầu từ sự thừa nhận rằng mỗi cá thể thực sự gồm có năm uẩn - chỉ có năm - (khandha) thành tố, tức là sắc, thọ, tưởng, hành (sankhàra) và thức. V́ ở Ấn Độ, bản ngă, linh hồn (atta hay àtman) luôn ám chỉ một cái ǵ thường hằng, vĩnh cửu tồn tại sau khi chết, c̣n ngũ uẩn th́ không có ǵ thường hằng vĩnh cửu cho nên phải kết luận là không có uẩn nào chứa đựng một linh hồn cả. Trong ngũ uẩn kết hợp thành một cá nhân toàn vẹn có đời sống tâm lư hay tinh thần, song không có một linh hồn theo nghĩa một thực thể trường cửu: cá nhân là vô ngă (anatta), không có linh hồn.

Một lư luận thứ hai hỗ trợ lư luận đầu tiên. Tính chất biến đổi và hoại diệt của ngũ uẩn khiến chúng gây khổ đau (dukkha) và một vật gây khổ đau, (và không làm thỏa măn) không thể là một linh hồn trường cửu.

Khi năm Tỳ-kheo nghe lời thuyết giảng này của đức Phật, tâm của chư vị thoát khỏi mọi lậu hoặc (àsava) đưa đến tái sanh, và do vậy, chư vị trở thành các bậc Thánh (A-la-hán) . Tri kiến của chư vị về Giáo Pháp cứu khổ bấy giờ cũng trở thành mênh mông, sâu thẳm như tri kiến đức Phật, chỉ khác ngài ở điểm nguồn gốc tri kiến ấy mà thôi. Về phương diện giáo lư, một đức Phật được định nghĩa là vị tự t́m ra con đường giải thoát cho ḿnh, trong khi một bậc A-la-hán được giải thoát nhờ nghe Pháp thuyết giảng.

Sự đắc quả tương đối dễ dàng của năm vị đầu tiên cũng như nhiều vị Tỳ-kheo và cư sĩ về sau đă khiến cho nhiều người đọc Kinh Điển nghĩ rằng quần chúng thời đức Phật có sẵn căn cơ hướng đến tuệ giác nhiều hơn chúng ta thời nay. Điều này cũng có thể xảy ra, v́ trong lịch sử thế giới có thể thấy nhiều thời kỳ tinh thần thăng tiến hay suy giảm.

Một lư do khác để giải thích sự kiện thường tuyên bố đắc quả A-la-hán là người Ấn Độ cổ đại, khác với ngày nay quan niệm đắc quả chỉ là:

1./ Bất cứ ai quán triệt Tứ Thánh Đế và theo Thánh Đế;

2./ Những ai nhận thức chính tham ái (tanhà) là nguyên nhân tái sanh và đau khổ, liền đoạn tận tham ái nhờ tri kiến ấy và như vậy là trở thành một bậc A-la-hán.

Thành Ba La Nại lúc đó đă là một kinh thành hoa lệ và là nơi tôn kính bậc nhất của người Ấn Giáo. Tron thành có một thanh niên tên là Da Xá (Da-xá), nam tử của một thương nhân hào phú, chủ tịch một nghiệp đoàn ở Ba La Nại. Da Xá là một thanh niên được nuông chiều mọi mặt. Việc quá thỏa măn với cuộc sống truy hoan đă làm cho nội tâm chàng trống rỗng. Chàng đi hài bằng vàng và mỗi mùa đền ăn chơi, truy hoan ở một cung diện khác nhau với hằng hà sa số vũ nữ vây quanh.

Một sáng sớm kia, chàng đến vườn nai chơi. Thấy Đức Phật, chàng đến đảnh lễ và kính cẩn ngồi xuống cách ngài một khoảng xa. Đức Phật nhận ra vẻ chán chường cuộc sống thế tục ở thanh niên này, bèn thuyết giảng cho chàng một về  "thuận thứ".  Đó là các vấn đề dễ hiểu về bố thí để tạo phước, tŕ giới để giữ phước lành, phước hưởng ở cơi thiên và sự nguy hiểm, tàn phá của dục lạc (Chi tiết này chứng tỏ khả năng sư phạm của Đức Phật là tuyệt vời).

Thấy chàng Da Xá lắng nghe và hiểu lời ḿnh nói, Đức Phật liền thuyết tiếp về Tứ Thánh Đế, đó là chân lư về khổ, khổ tập, khổ diệt và con đường chấm dứt khổ. Bằng cách thức này, Đức Phật ngay lập tức làm Da Xá lắng nghe và lĩnh hội được lời Phật dạy, Chàng đắc "Pháp nhăn vô trần ly cấu" tức là thấy "bất cứ vật ǵ chịu quy luật sanh khởi đều phải chịu quy luật hoại diệt". 

Trong lúc ấy, mẹ cua chàng Da xá khi không thấy con về (mải nghe Phật thuyết Pháp) sinh lo âu về con nên bà quyết định bảo chồng đi t́m con. Qua ḍ hỏi, ông cũng đến Vườn Nai và hỏi đức Phật về con trai ḿnh. Thay v́ đáp thẳng, đức Phật bảo ông ngồi xuống, rồi cũng thuyết giảng "bài Pháp thuận thứ" của ngài vừa chứng tỏ thành công với chàng Da xá. Song v́ nhận thấy phụ thân chàng Da xá đang quá lo lắng về con trai nên không thể thọ giáo thêm nữa, Đức Phật chỉ giảng thêm cho ông nghe phần đầu dễ hiểu trong Giáo Pháp Tứ Thánh Đế. Lập tức phụ thân chàng Da Xá xin quy y Phật, Pháp, Tăng và xin làm nam cư sĩ tại gia (Upàsaka – Ưu Bà Tắc). Như vậy, sau hai vị thương nhân người Miến Điện là Tapussa và Bhallika, ông là nam cư sĩ tại gia thứ ba nhưng là nam cư sĩ tại gia đầu tiên qui y Tam Bảo.

Cuối cùng, thân phụ chàng Da Xá mới nhận thấy con trai ông đang ngồi trong hội chúng vây quanh đức Phật. Ông liền thỉnh cầu con trai trở lại nhà v́ mẹ già đang ưu phiền về chàng. Song chàng Da Xá nh́n đức Phật với vẻ khẩn cầu tha thiết khiến xin ở lại nên Đức Phật bảo rằng một người đă khinh chê cuộc sống thế gian như Da Xá không thể tiếp tục sống đời cũ được nữa.

Thân phụ Da Xá đành chấp nhận song ông thỉnh Phật đến thọ thực ngày hôm sau và có Da Xá theo hầu. Đức Phật im lặng nhận lời. Ngay sau khi phụ thân ra về, chàng thanh niên Da Xá xin thọ giới Tỳ-kheo. Đức Phật nhận lời thỉnh cầu của chàng và chẳng bao lâu Tỳ-kheo Da Xá đắc Thánh quả A-la-hán, "Giờ đây có bảy vị A-la-hán trên thế gian". 

Buổi cơm cúng dường mà thân phụ chàng Da Xá thỉnh mời đức Phật diễn ra sáng hôm sau. "Được tôn giả Tỳ-kheo Da Xá theo hầu", Đức Phật lên đường về nhà song thân tôn giả , và được mẫu thân và "nguyên hiền phụ" của tôn giả nghênh tiếp. Sau khi hai bà này thọ giáo bài Pháp thuận thứ với đầy đủ chi tiết của đức Phật, hai bà liền quy y Tam bảo và trở thành các nữ đệ tử tại gia đầu tiên(Upàsikà- Ưu Bà Di) của Đức Phật.

Việc tôn giả Da Xá xuất gia đầu Phật đă gây nhiều tiếng vang lớn. Mọi người tự hỏi giáo Pháp nào đă thuyết phục đến mức một chàng thanh niên nổi tiếng như Da Xá chán hưởng thụ và rời bỏ đời sống đầy lạc thú để trở thành một Sa-môn khất sĩ ?! Sau sự kiện này, thêm bốn người bạn của chàng Da Xá cũng là đại công tử là Vimala, Subàhu, Punnaji và Gavampati - đều là nam tử của các thương nhân thuộc giai cấp Vệ-xá trong thành Ba La Nại xin xuất giá và đă được nhận làm Tỳ-kheo theo lời tiến cử của tôn giả Da Xá. Về sau, cả 4 vị này cũng đều đắc quả A-la-hán.

Chẳng bao lâu sau, thêm 50 bạn hữu của tôn giả từ các vùng lân cận Ba La Nại cũng gia nhập Giáo đoàn và đều đắc quả A-la-hán. Như vậy, lúc đó chư vị A-la-hán đă lên đến số 61 người.

Khoảng cuối mùa mưa, đức Phật thuyết hai bài Pháp rất quan trọng đối với việc phát triển Giáo hội tương lai. Ngài quyết định để cho chư vị Tỳ Kheo vừa đắc quả đi truyền bá Chánh Pháp: "Này các Tỳ-kheo, hăy ra đi, v́ lợi ích và an lạc của quần sanh, v́ ḷng thương tưởng đối với đời, v́ lợi ích, an lạc và hạnh phúc của chư Thiên và nhân loại. Đừng đi chung hai người cùng đường. Này các Tỳ-kheo, hăy thuyết Pháp (Dhamma) hoàn thiện ở phần đầu (sơ thiện), hoàn thiện ở phần giữa (trung thiện), hoàn thiện ở phần cuối (hậu thiện), cả về ư nghĩa lẫn văn cú, hăy truyền bá đời Phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ thanh tịnh. Có những người nhiễm bụi ít trong mắt sẽ đọa lạc nếu không nghe Pháp. Song nếu chư vị ấy nghe Pháp, chư vị sẽ được giải thoát. C̣n chính ta, này các Tỳ-kheo, ta sẽ đi đến thành lũy Uruvelà (Ưu-lâu-tần-loa) để thuyết Pháp". (Mv 1.11.1)

Rồi ngài cũng không dành riêng quyền truyền giới cho riêng ngài:

"Này chư Tỳ-kheo, ta cho phép chư vị khi ở trong những xứ sở, thôn làng xa xôi có quyền truyền tiểu giới xuất gia (pabbajà) (làm Sa di) và đại giới xuất gia (upasampadà) (làm Tỳ-kheo). Việc ấy phải thực hiện theo cách này: Trước tiên hăy cho giới tử cạo sạch râu tóc, đắp các y vàng và phủ vai bên trái với thượng y; rồi khi vị ấy đến đảnh lễ chân vị Tỳ-kheo truyền giới (như một dấu hiệu của bổn phận đệ tử), hăy cho phép vị ấy quỳ xuống cung kính nghiêng ḿnh trước giới sư với hai tay chắp lại. Sau đó vị ấy phải được dạy bảo lập lại câu: "Đệ tử xin quy y Phật, đệ tử xin quy y Pháp, đệ tử xin quy y Tăng". Câu này phải được lập lại ba lần. Này chư Tỳ-kheo, ta cho phép chư vị truyền tiểu giới xuất gia và đại giới của một tân thọ Tỳ-kheo bằng cách nhận Tam Quy này". (Mv 1.12.3-4)

Bằng cách cho phép chư Tăng truyền giới xuất gia, đức Phật đă tạo điều kiện để cho Tăng chúng có thể sống đời độc lập của ḿnh và tự ḿnh có đủ quyền hành, sự vụ trong việc hoàng pháp.

 

TÓM LƯỢC LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT

LIÊN QUAN ĐẾN PHẬT TÍCH

Oval: Về Trang trước
Oval: Trang Tiếp Theo
Oval: Về Trang trước
Oval: Trang Tiếp Theo
Oval: Về lại Vườn Nai

Trên 24 Năm chuyên trách hành Hương Phật tích Ấn Độ, Nepal