Thành Đạo dưới cội Bồ Đề - trong vườn Bồ Đề Đạo Tràng

Sau khi 5 anh em Nhà Kiều Trần như rời bỏ ngài, c̣n lại một ḿnh trong rừng ở núi khổ hạnh, thái tử Sĩ Đạt Đa, nay không c̣n là nhà khổ hạnh nữa, mà là một Sa-môn, khởi đầu một đạo lộ mới.

Ngài xuống núi và rồi theo chân núi đi về phía ḍng sông Ni Liên Thiền tươi mát. Cái nắng đầu mùa khô cũng oi bức và thúc dục bước chân ngài.

Đến bờ sông, ngài lội qua con sông êm đềm và tắm ḿnh trên ḍng sông như một người vừa giải thoát khỏi một sợi dây xiềng xích mà măi chưa thoát được. Nước của ḍng sông mát lạnh như thức tỉnh và đồng ḷng cùng quyết định Trung đạo của ngài. Tuy được tắm mát bởi ḍng sông, nhưng v́ khổ hạnh quá lâu ngày nên khi tắm song, ngài gần như kiệt sức bên này bờ sông. Thái Tử liền t́m đến một gốc cây trên bờ sông và Ngài gần như đă ngất đi dưới bóng cây cổ thụ Ajapala trên bờ.

Từ xa, Mục nữ Sujata trông thấy một Sa môn héo hon đang lả đi dưới bóng cây, bà liền chạy đến và thành tâm cúng dường cho ngài bát cháo sữa mà bà đă tự tay tỉ mỉ làm lấy.

Thọ xong bát cháo sữa cúng dường đầy dinh dưỡng, Thái tử được trợ duyên thêm sức mạnh thể chất và tinh thần. Ngài liền ra lại bờ sông, thả b́nh bát và khấn nguyện:

“ Nếu ta có thể t́m được con đường giải thoát, xin hăy cho b́nh bát này trôi ngược ḍng!”

Kỳ diệu và hữu duyên thay, một con rắn nước xuất hiện. Con rắn nước t́m cách bơi ngược ḍng sông và nó chọn ngay cái b́nh bát làm vật trú ẩn, tránh đối mặt trực tiếp với sức chảy của ḍng nước và một sự hợp duyên, b́nh bát trôi ngược ḍng.

Thấy ứng cầu, Thái tử càng quyết tâm theo con đường mới. Quay lại hang núi để tu hành chăng, ta vừa từ bỏ nơi mà 6 năm trời khổ hạnh không t́m được con đường giải thoát. Ta phải t́m một nơi nào khác, cách biệt với khu làng này.

Đang ngồi suy tư dưới bóng cây, Thái tử được 1 ông lăo trong làng dâng cúng một bó cỏ Kiết tường (cỏ Kusa – cỏ này thường mọc ở bờ sông và có rất nhiều ở bờ sông Ni Liên Thiền. Đây là 1 loại cỏ hơi đắng, rất sắc cạnh nên nhờ vậy, có thể ngăn được rắn rết và các loại côn trùng khác lại gần). Nhận bó cỏ cúng dường, Thái tử tiếp tục đi thẳng với con đường ḿnh vừa đi. Ngài lội qua nhánh sông thứ hai – sông Mohanà và sang đến vùng Bồ Đề Đạo Tràng (cách Hoa Thị Thành khoảng 120 Kms về phía nam).

Qua khỏi sông Mohanà, Ngài chọn ngay 1 chỗ gần bờ sông và ngồi thiền định ở đó. Một thôn nữ liền chỉ cho Thái tử gốc cây Tất Bát La gần đó và ngài liền chuyển chỗ, trải bó cỏ Kiết tường dưới gốc cây tấ Bát la, thiền định và suy tưởng trong ṿng 49 ngày.

Trong đường lối mới này, ngài được hỗ trợ bằng kỹ năng thiền định tập trung nội tâm mà ngài đă chứng đắc dưới sự hướng dẫn của đạo sư A La La Ca Lam và uất Đầu Lam. Tuy nhiên, pháp hành thiền này không phải lúc nào cũng đưa đến giác ngộ mà nó chỉ khiến làm chủ tâm trí để tập trung phát giác những điều vi kiến. Hành thiền không chưa đủ mà phải c̣n tùy thuộc vào nhiều nghiệp duyên thuận lợi và một nỗ lực rất kiên định hướng đến trí tuệ. Kết hợp trí tuệ, kiến thức và sự tập trung kiên định để thấu xét mọi vấn đề.

Tuần Lễ Đầu Tiên

Theo lời tường thuật của đức Phật Cồ Đàm trong kinh Trung bộ, ta biết rằng sự kiện Giác Ngộ kéo dài suốt ba canh (khoảng 9 giờ đồng hồ) bắt đầu từ 9 giờ tối như sau:

3 tiếng đầu (khoảng 9 đến 12 giờ đêm), “Ta nhớ lại nhiều kiếp quá khứ mà ta đă trải qua: một đời, hai đời, ba, bốn, năm, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, một trăm, một ngàn, một vạn trong nhiều thành kiếp hoại kiếp của thế giới ... Ta biết: Ta đă ở nơi kia, tên họ như vậy, gia tộc như vậy, đẳng cấp như vậy, lối sống như vậy. Ta đă trải qua các sự rủi may của số phận như vậy và mệnh chung như vậy. Sau khi thân hoại, ta lại tái sanh nơi khác, với tên họ như vậy ... và rồi mệnh chung như vậy. Bằng cách này, ta nhớ lại các đời sống quá khứ với nhiều đặc điểm trong nhiều hoàn cảnh. Ta đạt được minh trí (vijjà) này trong canh đầu đêm”. 3 tiếng thiền định, ngài đă đạt được sự soi rơ về nhân quả các đời. Vậy với cơ chế và nguyên tắc như thế nào mà nhân quả xảy ra?

3 Tiếng tiếp theo(khoảng từ 1 đến 3 giờ sáng): “Với thiên nhăn thanh tịnh, siêu nhân, vượt tri kiến phàm tục, ta thấy cách chúng hữu t́nh sanh tử như thế nào. Ta thấy rơ cao sang hay hạ liệt, thông minh hay ngu đần, mỗi người đều được tái sanh cơi lành hay cơi dữ tùy theo hạnh nghiệp của ḿnh và ta biết rơ: “Những kẻ nào đă tạo ác nghiệp về thân, khẩu, ư, sau khi thân hoại mạng chung sẽ tái sanh vào khổ cảnh, chúng sẽ vào đọa xứ, địa ngục. Song những kẻ nào tạo thiện nghiệp về thân, khẩu, ư sẽ được tái sanh cơi lành, sẽ lên thiên giới” Vào canh giữa, Sa-môn Sĩ Đạt Đa đạt được minh trí thứ hai: là luật nhân quả về nghiệp (karma) theo đó thiện nghiệp đưa đến tái sanh cơi thiện và ác nghiệp đưa đến tái sanh cơi ác. Tiếp theo, ngài suy luận và tỉm con đường để giải thoát khỏi nghiệp qua việc hiểu biết về nguyên nhân của nghiệp và từ đó, t́m được con đường thoát nghiệp để thoát khỏi luân hồi. Cũng từ đây, ngài chủ trương “Vô Ngă” tức lành, ác tại chính bản thân con người chứ không phải do thần thánh hay thế lực siêu nhiên sắp đặt. Đây chính là cũng là giai đoạn Thái Tử minh xét và thấu hiểu về thập nhị nhân duyên trên cơ phát triển, bổ sung và hoàn chỉnh thuyết nhân duyên của Bà La Môn giáo và thuyết tứ đại của phái Thuận thế.

Sau cùng, vào canh cuối, khi chân trời đă bắt đầu hiện rơ ở phương đông thành một làn ánh sáng trắng, Sa-môn Sĩ Đạt Đa đột nhập vào tri kiến thứ ba, đó là tri kiến về “Khổ” và “Tứ Thánh Đế”, tạo thành căn bản giáo lư của ngài:“Ta hướng tâm đến Lậu Tận Trí, đoạn tận lậu hoặc(àsavà) và biết như thật: “Đây là Khổ (Dukkha), đây là Khổ tập, đây là Khổ diệt và đây là con đường đưa đến Khổ diệt” và khi ta nhận chân điều này, trí ta được giải thoát khỏi dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Rồi tri kiến khởi sanh trong ta: “Sanh đă đoạn tận trong ta. Ta đă hoàn thành đời Phạm hạnh, những ǵ cần làm đă được làm xong, ta không c̣n tái sanh nữa”. (MN 36.28)

Ngài đă nhận rơ chân lư cái cách hay nguyên do mà nghiệp h́nh thành dẫn dắt loài hữu t́nh trong bể luân hồi. Với sự quán xét sâu xa các nguyên lư tri Từ lư luận nếu kết thúc nhân này th́ quả kia cũng hết và ngược lại, ngài phát kiến ra cách thoát khỏi luân hồi. Sau này, bài kinh căn bản nhất và là bài kinh đầu tiên Đức Phật thuyết Pháp cho 5 anh em nhà Kiều Trần Như tại Vườn Nai – Bài Tứ Diệu Đế cũng khởi phát từ đây.

Theo lời tường thuật của đức Phật Cồ Đàm trong kinh Trung bộ, ta có thể thấy rằngsự kiện Giác Ngộ kéo dài suốt ba canh (khoảng 9 giờ), do vậy, đó là một tiến tŕnh tuần tự. Điều này phù hợp với lời ngài tuyên bố khẳng định: “Giáo lư của ngài theo tiến tŕnh tuần tự, không có sự thể nhập đột ngột tự phát của tri kiến; ví như bờ biển không đột ngột sâu xuống, mà cứ tuần tự xuôi dần” . Hơn nữa, tiến tŕnh Giác Ngộ c̣n được chánh trí tuệ hướng dẫn như đă thể hiện rơ ràng từ những lời được ngài lập lại ba lần: “Ta hướng tâm đến túc mạng trí ... Ta hướng tâm đến thiên nhăn trí ... Ta hướng tâm đến lậu tận trí...”. V́ vậy ta có thể h́nh dung ra sự Giác Ngộ của đức Phật Cồ Đàm như là một trạng thái hạnh phúc tối cao kéo dài trong nhiều giờ khắc, với tâm trí cực kỳ minh mẫn, đă điều động mọi khả năng trí tuệ của ngài và tập trung chúng lại vào cùng một thời điểm, giống như một tấm kính nóng bỏng. Không có ǵ gọi là “xuất thần” trong sự Giác Ngộ này cả và càng không phải là một trạng thái bị động giống như một người sau cơn mê loạn…tự nhiên biết tất cả.

Suốt thời gian bảy ngày đầu tiên sau khi Thành Đạo Đức Phật ngồi không lay động dưới tàng cây Bồ Đề.

Tuần Thứ Hai

Đức Phật dành nguyên tuần thứ 2 để tỏ ḷng tri ân sâu xa đối với cây Bồ Đề vô tri vô giác đă che mưa đỡ nắng cho Ngài suốt thời gian chiến đấu đến thành Đạo Quả. Ngài đứng cách một khoảng xa để chăm chú nh́n cây Bồ Đề trọn một tuần không nháy mắt. Cử chỉ này cũng đem đến cho thế gian một bài học luân lư lớn về sự biết ơn và cũng là thời gian tĩnh lặng, một khoảng trống cần có để các tuần sau đó, Đưc Phật tiếp tục chiêm nghiệm về triết lư hay con đường mới mà ḿnh vừa t́m ra.

Tuần Thứ Ba

Tương truyền v́ Đức Phật không rời vườn Bồ Đề Đạo Tràng mà vẫn c̣n quanh quẩn ở cội Bồ Đề nên chư Thiên lúc bấy giờ c̣n nghi ngờ, không biết Ngài đă đắc Quả Phật chưa. Đức Phật đọc được tư tưởng ấy, Ngài dùng oai lực thần thông tạo một "đường kinh hành quư báu lưng chừng trời" (ratana camkamana) và đi lên đi xuống thiền hành suốt trọn tuần.

Tuần Thứ Tư

Trong tuần lễ thứ tư, Đức Phật ngự trong "bảo cung" (ratanaghara, cái pḥng bằng ngọc, trong ư nghĩa "cái pḥng quư báu") để suy niệm về những điểm phức tạp của Vi Diệu Pháp (Abhidhamma, giáo lư cao siêu). Kinh sách ghi nhận rằng, khi Ngài suy tưởng về lư Nhân Quả Tương Quan (Patthana), bộ khái luận thứ bảy của Tạng Vi Diệu Pháp, tâm và thân Ngài trở nên hoàn toàn tinh khiết và do đó phát tỏa ra một vầng hào quang sáu màu.

Tuần Thứ Năm

Trong tuần thứ năm, Đức Phật ngồi dưới cội Ajapala trứ danh, chứng nghiệm Hạnh Phúc Giải Thoát (vimutti sukha). Vào cuối tuần, khi Ngài xuất ra khỏi trạng thái siêu thế ấy có một vị Bà-la-môn ngă mạn (huhumka jakita) đến gần chào hỏi theo lễ nghi rồi nói: "Này Tôn Giả Cồ Đàm (Cồ Đàm), đứng về phương diện nào ta trở thành một thánh nhân (Brahmana) và những điều kiện nào làm cho ta trở thành thánh nhân?"

Để trả lời, Đức Phật đọc lên bài kệ: "Người kia đă xa lánh mọi điều xấu xa tội lỗi, không c̣n ngă mạn (huhumka), đă thanh lọc mọi ô nhiễm, thu thúc lục căn, thông suốt các pháp học và đă chân chánh sống đời phạm hạnh thiêng liêng, người ấy được coi là thánh nhân (Brahmana). Đối với người ấy không c̣n có sự bồng bột, dầu ở nơi nào trên thế gian." Mà qua đó, Ngài khẳng định với đạo sĩ Bà La Môn là: Do công phu tu hành và thực hành chánh pháp mà một người trở thành thánh nhân chứ không phải do di truyền như người Ba la Môn hay nghĩ (Chỉ có ḍng dơi tu sĩ Bà la Môn mới sinh ra những con người có thể trở thành tu sĩ Bà La Môn và trở thành thánh nhân)

 

Tuần Thứ Sáu

Từ cây Ajapala Đức Phật sang qua cây Mucalinda và ngự tại đây một tuần lễ để chứng nghiệm Hạnh Phúc Giải Thoát. Bỗng nhiên có một trận mưa to kéo đến. Trời sẫm tối dưới lớp mây đen nghịt và gió lạnh thổi suốt nhiều ngày.

Vào lúc ấy Mucalinda, măng xà vương, từ ổ chun ra, uốn ḿnh quấn xung quanh Đức Phật bảy ṿng và lấy cái mỏ to che trên đầu Ngài. Nhờ vậy mà mưa to gió lớn không động đến thân Đức Phật.

Tuần Thứ Bảy

Vào tuần thứ bảy, Đức Phật bước sang cội cây Rajayatana và ở đó chứng nghiệm Quả Phúc Giải Thoát.

Một Trong Những Phật Ngôn Đầu Tiên

"Xuyên qua nhiều kiếp sống trong ṿng luân hồi, Như Lai thênh thang đi, đi măi.

Như Lai măi đi t́m mà không gặp, Như Lai đi t́m người thợ cất cái nhà này.

Lặp đi lặp lại đời sống quả thật là phiền muộn.

Này hỡi người thợ làm nhà,

Như Lai đi t́m được ngươi.

Từ đây ngươi không c̣n cất nhà cho Như Lai nữa.

Tất cả sườn nhà đều găy,

Cây đ̣n dong của ngươi dựng lên cũng bị phá tan.

Như Lai đă chứng nghiệm Quả Vô Sanh Bất Diệt và Như Lai đă tận diệt mọi Ái Dục".

Vừa lúc b́nh minh, vào ngày Ngài chứng đắc Quả Vô Thượng, Đức Phật đọc lên bài kệ hoan hỷ này, mô tả sự chiến thắng tinh thần vô cùng vẻ vang rực rỡ.

Đức Phật nh́n nhận cuộc đi thênh thang bất định trong nhiều kiếp sống quá khứ đầy khổ đau phiền lụy. Đây cũng là sự kiện hiển nhiên, chứng minh niềm tin nơi thuyết tái sanh. Ngài phải đi bất định và do đó phải chịu khổ đau, bởi v́ chưa t́m ra người đă xây dựng cái nhà, tức cơ thể vật chất này. Trong kiếp sống cuối cùng, giữa khung cảnh cô đơn tịch mịch của rừng thiêng, lúc đi sâu vào công tŕnh hành thiền mà Ngài đă dày công trau dồi từ xa xôi trong quá khứ, trải qua cuộc hành tŕnh bất định, Ngài khám phá ra anh thợ cất nhà hàng mong mỏi muốn biết. Anh thợ này không ở đâu ngoài, mà ẩn tàng sâu kín bên trong Ngài. Đó là ái dục, sự tự tạo, một thành phần tinh thần luôn luôn ngủ ngầm bên trong tất cả mọi người. Ái dục xuất phát bằng cách nào th́ không thể biết. Cái ǵ ta tạo ra ắt ta có thể tiêu diệt. Vị kiến trúc sư đă t́m ra anh thợ cất nhà, tức đă tận diệt ái dục, khi đắc Quả A La Hán, mà ư nghĩa được bao hàm trong những danh từ "chấm dứt ái dục". Cái sườn của căn nhà tự tạo ấy là những ô nhiễm (kilesas) như tham (lobha), sân (dosa), si (moha), ngă mạn (mana), tà kiến (ditthi), hoài nghi (vicikiccha), dă dượi (thina), phóng dật (uddhacca), không hổ thẹn tội lỗi, những hành động bất thiện (ahirika), không ghê sợ hậu quả của hành động bất thiện (anottappa). Cây đ̣n dong chịu đựng cái sườn nhà là vô minh, căn nguyên xuất phát mọi dục vọng. Phá vỡ được cây đ̣n dong vô minh bằng trí tuệ là đă làm sập được căn nhà. Sườn và đ̣n dong là vật liệu mà anh thợ dùng để xây cất cái nhà không đáng cho ta ham muốn. Nếu hết vật liệu, tức nhiên anh thợ không c̣n cất nhà được nữa. Khi nhà đă bị phá vỡ tan tành th́ cái tâm mà trong câu chuyện không được đề cập đến, đă đạt đến trạng thái vô vi, Vô Sanh Bất Diệt, Niết Bàn. Tất cả những ǵ c̣n tại thế đều phải bị bỏ lại phía sau và chỉ c̣n có trạng thái siêu thế, Niết Bàn.

Để hiểu rơ hơn về con đường thoát khổ, ta hăy xem Đức Phật nói thế nào về Niết Bàn. Trong Kinh Bổn Sự và Đại Tạng, Đức Phật dạy về Niết Bàn như sau: "Này chư tỳ khưu, có một trạng thái không sanh (ajata), không khởi phát (abhuta), không được cấu tạo (akata), và không tùy thế (asamkara). Nếu không có trạng thái không sanh, không khởi phát, không cấu tạo, và không tùy thế, ắt không thể có lối thoát cho cái có sanh, có khởi phát, có cấu tạo, và tùy thế. Do sự kiện có trạng thái không sanh, không khởi phát, không cấu tạo, và không tùy thế, nên mới có lối thoát cho cái có sanh, có khởi phát, có cấu tạo, và tùy thế." Đức Phật dạy rơ về Vô dư Niết Bàn và Hữu dư Niết Bàn. Lấy trường hợp đắc đạo đạt Niết Bàn của Đức Phật làm ví dụ th́ ngay sau khi giác ngộ Vô Ngă dưới cội Bồ Đề ở Bồ Đề Đạo Tràng th́ Thái Tử Sĩ Đạt Đa lập tức thành Phật (người giác ngộ) đạt Niết Bàn, ấy gọi là Hữu dư Niết Bàn, tức đạt được "trạng thái" Niết Bàn; Sau khi Đức Phật qua đời tại Câu Thi Na, ra khỏi sự ràng buộc của thân Tứ đại, Ngài nhập vào "cơi" Niết Bàn, tức Vô dư Niết Bàn.

Do đó, Niết bàn không phải là một nơi chốn như Thiên Đàng hay Hỏa Ngục mà là trạng thái giải thoát, an nhiên tự tại, nhờ thấu hiểu (giác ngộ) chân tướng của vạn vật, nên chấm dứt và thoát ra ngoài mọi ư niệm, thoát mọi chấp Ngă, thoát mọi chấp pháp (thoát khỏi sự cho rằng mọi vật có thật, có tự tánh, có sinh, có diệt), thoát khỏi luân hồi, tức thoát ṿng sinh tử.

 Khi Đức Phật đang thiền định để chứng nghiệm hạnh phúc của quả giái thoát. Hai thương nhân người Myanmar là Tapussa và Bhallika đi thuyền trên sông Ni Liên Thiền nh́n thấy vẻ thoát tục khác thường của người đă ghé thuyền cúng dường bánh gạo và mật ong rồi đồng ư quy y ngay khi nghe Đức Phật đọc bài kệ đầu tiền và 2 ông trở thành 2 Phật tử tại gia đầu tiên quy y nhị bảo (mới chỉ Phật và Pháp của ngài. Sau này tại vườn Nai, sau khi nghe Phật sơ chuyển Pháp Luân, 5 anh em nhà Kiều Trần Như quy y theo Phật, lập nên Tăng đoàn th́ mới có tam bảo là Phật, Pháp, Tăng). Hai vị thương nhân người Myanmar có yêu cầu Đức Phật ban cho một vận ǵ đó để đem về thờ cúng và làm biểu tượng của triết lư, tôn giáo mới, Đức Phật bèn nhổ cho 2 ông vài sợi tóc và đến nay, những sợi tóc này vẫn c̣n quản tại chùa Bo Ta Ung ở Miến Điện.

 

TÓM LƯỢC LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT

LIÊN QUAN ĐẾN PHẬT TÍCH

Trên 24 Năm chuyên trách hành Hương Phật tích Ấn Độ, Nepal

Oval: Về Trang trước
Oval: Trang Tiếp Theo