6 năm tầm đạo sau khi xuất gia.

 

Sau khi cùng Sa Nặc vượt thanh xuất gia, THÁI TỬ SĨ ĐạT ĐA sống tuần đầu tiên ở làng Anupiyà rồi đi đến thành Vương Xá. Tại đây, ngài gặp Đại vương Tần bà Sa La c̣n trẻ tuổi của nước Ma Kiệt Đà (Thời ấy nhà vua mới hai mươi bốn tuổi và đă trị nước chín năm). Chuyện kể rằng trong lúc nhà khổ hạnh Cồ Đàm đi khất thực trong vùng thành Vương Xá, Đại vương tần bà Sa La từ trên lầu thượng của hoàng cung nh́n xuống thấy ngài. Động ḷng hiếu kỳ trước dáng điệu cao sang của vị khất sĩ, nhà vua cho người đi điều tra rồi đến gặp ngài tại đồi Pandava, một ngọn đồi ở hướng đông bắc trong số năm đồi bao bọc Vương Xá thành và nằm gần ngay cổng vào thành (Hiện nay vẫn c̣n 1 tháp gặp gỡ được dựng ở đây để kỉ niệm cuộc gặp này). Cung chính tại nơi này, Thái tử có lời ước hẹn với Vua Tần Bà Sa La là “Khi tầm được đạo, ngài sẽ quay về để độ cho vua Tần Bà Sa La”.

 

Rời thành Vương Xá, Thái tử đến với các thầy tu Bà La Môn nổi tiếng thời bấy giờ, đầu tiên ngài học đạo với  Bạt Già Bà nhưng Giáo lư của vị bà La Môn này chỉ với mục đích tu ép xác để sinh về cơi trời. Thái Tử nghĩ, nếu về được cơi trời th́ khi hết phúc, lại tiếp tục luân hồi. Vậy là ngài chưa bằng ḷng và đi tiếp đến học ngài A La La Ca Lam.

 

Với A La La Ca Lam, giáo phái t́m đến cơi giải thoát là “ Vô Sở Hữu Sứ”, Thái Tử suy nghĩ và thuật lại như sau: Ta lại suy nghĩ: “Không phải chỉ có ḷng tin, có tinh tấn, có niệm, có định, có tuệ. Ta cũng có đủ tất cả những điều kiện này”. Và chẳng bao lâu ta cũng đă chứng đắc giáo lư cùng an trú trong ấy. Ta nói chuyện này với A La La Ca Lam và vị ấy bảo: “Thật là ích lợi cho chúng ta, thật là an lạc cho chúng ta khi có được tôn giả này làm vị đồng Phạm hạnh của chúng ta. Giáo pháp này ta đă chứng đắc, tôn giả cũng đă chứng đắc. Ta như thế nào, tôn giả cũng vậy, tôn giả thế nào, ta cũng như vậy. Này tôn giả, chúng ta sẽ cùng hướng dẫn hội chúng đệ tử này!”. Như vậy vị đạo sư này đă xem ta như người đồng đẳng và rất tôn trọng ta. Song ta suy nghĩ: “Giáo pháp này không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn mà chỉ đưa đến Vô Sở Hữu Xứ”. V́ thế ta chán ngán, không muốn chấp nhận giáo pháp này nữa, ta bác bỏ nó và ra đi” Tương truyền, chính vị giáo chủ này c̣n mời  Thái Tử cùng lănh đạo giáo phái v́ Thái tử không những đă đạt được cảnh giới rất cao của giáo phái mà c̣n xuất thân ḍng dơi cao quí, và là bạn của vua Tần Bà Sa La … V́ chưa đạt sở nguyện giải thoát nên Thái tử từ chối và tiếp tục lên đường tầm đạo.

 

Ngài tiếp tục đến học đạo Uất Đầu Lam (Uddaka Ràmaputta) với giải thoát là cơi “Phi tưởng sứ phi phi tưởng sứ”. “Phi tưởng sứ phi phi tưởng sứ” là 1 cơi có mà như không, không mà như có. Ví như 1 cốc nước cam đă uống hết, nói đó là cốc nước cam th́ không phải v́ nước cam đă uống hết. Nếu nói đó là cái cốc không cũng không đúng, v́ nó vẫn c̣n một ít dư vị của nước cam.Trong Trung Bộ, ngài miêu tả kinh nghiệm sống với đạo sư Uddaka bằng những lời cũng gần tương tự như với A La La Ca Lam . Khi thái tử Sĩ Đạt Đa chứng đắc tri kiến mà sư phụ Ràma của Uddaka đă chứng đắc trước kia, đạo sư Uddaka liền đề nghị ngài, không phải đồng lănh đạo mà là chức vụ lănh đạo độc nhất của hội chúng. Vị đạo sư này nh́n nhận Thái tử có đầy đủ khả năng tu chứng cao hơn cả thầy. Câu hỏi mà Thái tử đặt ra là nếu đạt đến cơi đó rồi th́ ” Cơi đó có ta hay không có ta?”. Nếu có ta, th́ vẫn sẽ c̣n chịu luân hồi và nếu nói là không có ta th́ cũng không đúng v́ vẫn con vương vấn chút ǵ như dư vị của cốc nước cam. Ngài xuất gia để mong cầu giải thoát khổ đau, chứ không phải lănh đạo một giáo phái. Do vậy, khi giáo lư của đạo sư Uddaka không làm ngài thỏa măn và ngài lại chán ngán thói tự kiêu của đạo sư Uddaka nên ngài liền rời bỏ vị này.

 

Khi rời am thất và hội chúng đạo sư Uddaka Ràmaputta, Thái tử Sĩ Đạt Đa du hành về hướng tây nam cho đến gần Ưu-lâu-tần-loa, một thị trấn có thành lũy của quân đội thuộc Đại Vương Magadha, ngài thấy “một vùng đất tươi đẹp với khu rừng khả ái và ḍng sông trong vắt rất thích hợp để tắm mát và nghỉ ngơi, lại có làng xóm chung quanh để khất thực”.  Tại địa điểm này trên bờ sông Ni Liên Thiền hợp với sông Mohanà để tạo thành sông Phalgu, ngài trú chân và hành tŕ khổ hạnh tại núi Vô Úy – núi khổ hạnh. Ngài diễn tả cho hội chúng Tỳ-kheo nghe đầy đủ chi tiết về những cuộc phiêu lưu mạo hiểm trong suốt sáu năm ṛng tu khổ hạnh này như sau: “Ta nghiến rằng, chận lưỡi trên nóc họng, nhiếp phục tâm ta, ta nỗ lực hàng phục tâm, chế ngự tâm ...” Kết quả là mồ hôi đổ ra và ngài nhận thấy rằng tâm là một phương tiện có thể làm cho thuần thục, nhưng cứu cánh và giác ngộ th́ không thể đạt được bằng cách ép buộc và thiếu trí tuệ. “Hành thiền nín thở” cũng không đem lại kết quả ǵ, đó là cách kiềm chế hơi thở lại càng lâu càng tốt. Kết quả là không đạt được thiền định hay thắng trí nào cả, mà chỉ nghe tiếng gào thét qua lỗ tai cùng những cơn đau nhức khủng khiếp trong đầu, những cơn co thắt dạ dày và cảm giác nóng bỏng đốt cháy toàn thân. Hai lần thất bại v́ các phương pháp “hướng nội” kể trên khiến thái tử Sĩ Đạt Đa t́m đến các phương pháp “hướng ngoại”.

 

Ngài sống lơa thể và không nhận các loại thức ăn đem đến, nhưng phải đi khất thực các thứ rau quả ngũ cốc của riêng ngài. Tại mỗi nhà, ngài chỉ ăn chừng một nắm tay, có khi lại hạn chế ăn uống chỉ một lần trong bảy ngày. Những khi khác ngài lại ăn thứ cây mọc hoang. Vào mùa lạnh, ngài mặc áo quần toàn giẻ rách, vải liệm tử thi, da súc vật khô, rơm cỏ hoặc vỏ cây. Ngài không cắt râu tóc mà chỉ nhổ chúng. Ngài không ngồi, mà chỉ đứng, dựa lưng hoặc chồm hổm trên gót chân. Nếu cần nằm th́ chỉ nằm trên gai nhọn. Ngài bỏ tắm rửa, cứ để mặc lớp đất bụi bám dày tự rụng ra. Đồng thời ngài lại thực hành từ bi cực độ, không làm hại sinh vật nào và thương xót luôn cả giọt nước: “Mong rằng ta không làm hại các sinh vật nhỏ trong ấy”. Ngài chạy trốn đám người chăn ḅ, cắt cỏ và kiếm củi lúc họ vào rừng và ẩn ḿnh thật kỹ.

 

Về chốn ở, ngài sống suốt mùa đông Ấn Độ từ tháng mười hai đến tháng giêng trong rừng thưa và ban đêm, khi nhiệt độ chỉ gần điểm 0, ngài sống ngoài trời, c̣n mùa hạ vào tháng năm, sáu ngài làm ngược lại là sống ban đêm trong rừng rậm giữa làn không khí ngột ngạt oi bức, và ban ngày lại sống ngoài trời dưới ánh nắng gay gắt. Ở đây, ngài thường sống trong các nghĩa địa thiêu xác, bọn trẻ chăn ḅ khạc nhổ, tiểu tiện trên ḿnh ngài, ném đất vào ngài hoặc lấy cọng cỏ ngoáy lỗ tai ngài. Đôi khi ngài c̣n ăn cả những thứ không phải là thức ăn thông thường của người khổ hạnh. Khi bọn mục đồng để đàn ḅ lại một ḿnh, ngài đến kiếm ăn phân bê con và có lúc lại ăn ngay cả phân của chính ḿnh “nếu nó không tiêu hóa hết”. Ngài mô tả t́nh trạng này rất sinh động như sau: “V́ ta ăn quá ít mỗi ngày, nên cơ thể ta trở nên hết sức gầy yếu. Tay chân ta như các lóng tre khô đầy khúc khỉu. Hai bàn tọa của ta trở thành giống như móng trâu, xương sống với cột tủy lồi ra trông giống chuỗi hạt. Xương sườn ta lộ rơ như rui cột của ngôi nhà đổ nát. Đồng tử của ta nằm sâu trong hố mắt thăm thẳm long lanh giống như ánh nước long lanh từ dưới giếng sâu. Da đầu ta khô héo nhăn nheo như trái mướp đắng được cắt đem phơi nắng khô héo nhăn nheo. Nếu ta muốn sờ da bụng th́ ta đụng nhằm xương sống v́ hai thứ đă dính sát vào nhau. Nếu ta muốn đi đại tiện hay tiểu tiện th́ ta ngă úp mặt xuống đất. Nếu ta chà xát tay chân th́ đám lông hư mục rụng xuống trong tay ta”. Khi Thái Tử hành tŕ khổ hạnh khắc nghiệt đến như vậy khiến nhiều người thán phục trong đó có nhóm năm nhà khổ hạnh là 5 anh em nhà Kiều Trần Như ngưỡng mộ và tu theo. Song cả năm vị khổ hạnh này đều mất hết ảo vọng, vô cùng dao động và phẫn nộ v́ thái tử Sĩ Đạt Đa, người anh hùng gương mẫu của nhóm, đă không c̣n theo đuổi cuộc tầm cầu, đă phá bỏ việc hành tŕ khổ hạnh và hạ sơn để đi theo con đường Trung Đạo. Chúng ta hăy nghe lời giải thích từ chính miệng ngài:

“Bằng phương pháp này, theo đạo lộ này, với khổ hạnh khắc nghiệt này, ta đă không chứng đắc tối thượng cứu cánh của nỗ lực trượng phu, đó là tri kiến thù thắng của bậc Thánh. Tại sao lại không? Đó là v́ ta đă không đạt trí tuệ (pañña), là pháp cao thượng có khả năng hướng dẫn người thực hành đoạn tận khổ đau (giải thoát luân hồi sanh tử)”

 

mặc dù ngài đă tu khổ hạnh rất khắc nghiệt so với các đạo sĩ Bà La Môn thời đó

“Bất cứ Sa-môn Bà-la-môn nào từng có những cảm thọ đau đớn, khốc liệt, khủng khiếp, cũng không thể vượt qua khổ thọ này của ta. Tuy thế với khổ hạnh vô cùng khắc nghiệt này, ta vẫn không đạt được tối thượng cứu cánh của nỗ lực trượng phu, đó là tri kiến thù thắng, trí tuệ của bậc Thánh. Vậy có thể có đạo lộ nào khác đưa đến giác ngộ hay chăng?”.

 

Trong khi suy nghĩ sâu xa để t́m con đường khác, ngài nhớ lại một sự kiện thuở ấu thơ. Nhiều năm trước kia, khi ngài mới 6 tuổi, tại kinh thành Ca Tỳ La vệ có lễ Hạ điền mà đích phụ vương ngài thân hành bước xuống cày ruộng, chính ngài, thái tử Sĩ Đạt Đa, đang ngồi bên bờ ruộng dưới bóng cây đào và đột nhiên nhập vào một trạng thái ly dục ly bất thiện pháp, một trạng thái thiền định đi kèm với tầm, tứ, hỷ, lạc. Ngài tự hỏi “Có thể nào cách quán tưởng này chính là con đường đưa đến giác ngộ chăng?” Và bởi v́ một thân thể gầy g̣ bạc nhược phô bày đủ mọi dấu hiệu kiệt quệ không thể là phương tiện tối ưu để mưu cầu giải thoát tâm linh. Bên tai ngài thoáng nghe được một bài thơ của lũ trẻ trăn trâu… Như một sợi dây đàn, căng quá th́ đứt, trùng quá cũng không thể cho tiếng nhạc du dương nên chẳng bao lâu sau Thái tử Sĩ Đạt Đa đă từ bỏ lối tu khổ hạnh, nhịn ăn và trở về một lối sống quân b́nh hơn. Năm vị khổ hạnh đồng tu là 5 anh em nhà Kiều Trần Như thấy vậy chỉ có thể thấy việc ngài dứt bỏ phương pháp khổ hạnh cũ như một sự thối chí chứ không thấy việc ngài chấp nhận một phương pháp cầu đạo mới, nên từ đó đă xa lánh và coi thường ngài.

 

Từ bỏ núi Khổ Hạnh, Thái tử lội qua song Ni Liên Thiền hướng về làng Sujata. Nước song mát lạnh như cổ vũ cho ư tưởng con đường mới của ngài. Mặc dù được tắm mát, nhưng do thân thể gầy ṃn từ lối tu khổ hạnh, Thái tử vẫn mệt lả đi khi sang đến bờ bên kia. Ngài t́m đến một gốc cây trên bờ và gần như thiếp đi v́ mệt.

 

Gần đấy, Mục nữ Sujata, như được mach bảo, ngay từ sáng sớm đă dậy và tự tay ḿnh, cẩn thận nấu món cháo sữa truyền thống để dâng tặng cho những bậc hiền triết và khâ1ất sĩ tu hành. Nh́n thấy Sa Môn Cồ Đàm héo ṃn lả đi bên gốc cây gần nhà, bà liền cung kính cúng dường bát cháo sữa đầy dinh dưỡng mà ḿnh vừa làm ra.

 

Nhận bát cháo sữa, sau khi thọ song, Thái Tử như thấy ḿnh them quyết tâm tầm đạo theo phương thức mới. Để tỏ rơ quyết tâm, Ngài quay lại bờ sông Ni Liên Thiền và thả trôi b́nh bát mà bấy lâu nay luôn bên ḿnh với lời khấn nguyện:

” nếu ta có thể t́m được con đưo7ờng mới th́ xin cho b́nh bát trôi ngược ḍng”

 

Hữu duyên và ḱ lạ thay, một con rắn nước, trong lúc t́m cách bơi ngược ḍng đă chọn cái b́nh bát của Thái Tử vừa thả xuống sông làm nơi lẩn tránh sức nước đang chảy ngược ḍng. Và thế là, cái b́nh bát từ từ trôi ngược ḍng trong niềm hoan hỉ của Thái tử.

 

Ngài càng thêm quyết tâm, Đang suy tư dưới bóng cây, Thái tử được một ông lăo chăn ḅ trong làng cúng dường một bó cỏ KUSA (kiết tường—một loại cỏ mọc rất nhiều hai bên bờ sông Ni Liên Thiền. Mùa có nước, cỏ mọc cao gần 1,7m, lá tương đối to nhưng sắc cạnh như dao. Chính nhờ đặc điểm cạnh sắc mà loại cỏ này chống được các loài ḅ sát như rắn, rết … không xâm hại). Thái tử nhận bó cỏ cúng dường và ngài tiếp tục theo con đường đă chọn, vượt nốt ḍng Mahonà sang vùng Bồ Đề Đạo Tràng.

 

TÓM LƯỢC LỊCH SỬ ĐỨC PHẬT

LIÊN QUAN ĐẾN PHẬT TÍCH

Oval: Về Trang trước
Oval: Trang Tiếp Theo

Trên 24 Năm chuyên trách hành Hương Phật tích Ấn Độ, Nepal

Oval: Về Trang trước
Oval: Trang Tiếp Theo