1.3 LỄ TRÀ-TỲ (HỎA TÁNG)

 

Giữa mọi người, b́nh tĩnh nhất là tôn giả Anuruddha, em họ của đức Phật và là anh khác mẹ với tôn giả Ànanda, vị ấy vừa an ủi chư Tỳ-kheo, trong đó có một số vị khóc than, vừa nhắc lại những lời dạy của bậc Đạo Sư đă diệt độ về tính chất vô thường của vạn pháp. Đến gần sáng, vị ấy bảo tôn giả Ànanda đi vào thành Kusinàrà báo tin đức Như Lai diệt độ cho thị dân. Trưởng lăo Ànanda bao giờ cũng sẵn sàng thi hành sứ mạng này. Tôn giả tường thuật sự kiện bậc Đạo Sư diệt độ trong hội trường, nơi bộ tộc Malla đang tập họp. Lập tức hội chúng ra lệnh cử hành lễ hỏa táng. (DN 16. 6. 11)

Tuy nhiên, việc hỏa táng đă không thành mặc dù người ta đă cố t́nh nhiều lần châm lửa.

Trong lúc ấy Trưởng lăo Mahàkassapa (Đại-Ca-diếp) đang trên đường về đến Kusinàrà với một hội chúng Tỳ-kheo th́ nhận được tin. Đây là một tin buồn mà chỉ những Tỳ-kheo đạt trí tuệ cao thâm mới có thể chấp nhận một cách b́nh thản, c̣n lại tất cả đều khóc than. Ngoại trừ Tỳ-kheo Subhadda - ta không nên lẫn lộn với Sa-di Subhadda trùng tên, người vừa được đức Phật cho phép xuất gia ngay đêm ngài sắp tịch diệt - Tỳ-kheo Subhadda này, trước kia là thợ hớt tóc ở làng Àtumà, chỉ vừa mới xuất gia lúc tuổi đă cao, liền tuyên bố: "Thôi đủ rồi, các hiền giả, đừng than khóc bi ai. Chúng ta được hoàn toàn thoát khỏi vị Đại Sa-môn. Trước kia chúng ta luôn bị phiền nhiễu v́ lời nói của ngài: "Chư vị được phép làm việc này. Chư vị không được phép làm việc kia!". Nay chúng ta có thể làm ǵ chúng ta thích và không làm những ǵ chúng ta không thích!" (DN 16. 6. 20).

Tôn giả Mahàkassapa không đáp lại những lời này mà chỉ nhanh chóng đi về Câu Thi Na. Khi Tôn giả về đến nơi, ngón chân cái thuộc bàn chân phải của Đức Phật lập tức tḥ ra như đón ngài. Sau khi tôn giả Mahàkassapa cùng các Tỳ-kheo kia đă đi nhiễu quanh di hài ba lần theo hướng kim đồng hồ và chắp tay cúi đầu đảnh lễ xong, giàn hỏa liền lập tức bắt lửa và bùng cháy. Khi giàn hỏa đă cháy hết hoàn toàn, đám tro được dập tắt với nước lạnh. Di hài của đức Phật chỉ c̣n lại một ít xương xá-lợi, xương được đặt vào một b́nh đất tại địa điểm hỏa táng và các người Malla đánh dấu chỗ này bằng cách cắm các cây thương (dáo) xuống mặt đất chung quanh. (DN 16. 6. 22)

Rồi toàn thể đại chúng đều rất kinh ngạc khi thấy sứ giả từ khắp mọi phương dồn dập đến Kusinàrà yêu cầu được chia một phần xá-lợi Phật. Ban đầu những người Mala không muốn nhượng bất cứ phần nào xá-lợi, nhưng cuối cùng phải nghe theo lời ḥa gỉai và phân chia của Bà-la-môn Dona—người đảm trách lễ hỏa táng. Vị bà la Môn này đả phản ứng lại thai độ ích kỷ của người Malla có thể dẫn đến chiến tranh để tranh dành xá lợi và như vậy là đi trái lại với lời dạy của bậc Đạo Sư vừa quá cố, người bao giờ cũng ủng hộ ḥa b́nh (DN 16. 6. 25). Cuối cùng, Bà-la-môn Dona chia xá-lợi thành tám phần đều nhau, mỗi phần đó đưa về:

Đại Vương Ajàtasattu nước Magadha ở Ràjagaha.

Bộ tộc Licchav́ ở Tỳ Xá Ly.

Bộ tộc Sakiya ở (Tân) Ca Tỳ La Vệ.

Bộ tộc Buĺ ở Allakappa.

Bộ tộc Koliya ở Ràmagàma.

Một Bà-la-môn ở Vethad́pa.

Bộ tộc Malla ở Pava.

Bộ tộc Malla ở Kusinàrà giữ phần thứ tám.

Sau khi đă chia xong, sứ giả từ bộ tộc Moriya ở Pipphalivana mới đến đ̣i chia phần và cuối cùng, vị này đành phải chịu nhận một ít tro ở giàn hỏa. C̣n Bà-la-môn Dona giữ lấy cho ḿnh cái b́nh đất đă đựng xá-lợi sau khi hỏa thiêu và được dùng để chia phần (DN 16. 6. 24). Tất cả mười phần xá-lợi hay kỷ vật ấy đều được tôn thờ trong mười ngôi tháp (DN 16. 6. 27).

 

Cho đến nay, hai b́nh trong số ấy đă được khám phá và được các nhà khảo cổ quan sát. Chiếc b́nh nhỏ h́nh cầu với lời ghi chú của người mộ đạo trên nắp mà ngày xưa bộ tộc Sakiya làm lễ nhập tháp ở địa điểm nay là vùng Pipràvà (Ca Tỳ La Vệ II) được đặt trong Bảo tàng Quốc gia Ấn Độ ở Calcutta, nhưng không có tro, v́ tro này đă được đem tặng nhà vua Xiêm (Thái Lan) nhiều thập niên trước. Rồi năm 1997, Hoàng gia Thái Lan lại đem tặng lại cho bảo ta2ng quốc gia Ấn độ tại Niu Đê Li một phần Xá Lợi này mà cho đến nay, chúng ta có thể chiêm bái tại đây.

 

C̣n chiếc b́nh đậy kín mà người Licchav́ đă bảo tồn phần xá-lợi dành cho họ được đào lên tại Tỳ Xá Ly năm 1958. B́nh này chứa phần di cốt tro cùng nhiều vật khác và ngày nay thuộc quyền giám hộ của Ban Khảo cổ và Bảo tàng Chính phủ Quốc gia Bihàr ở Patna. 

Oval: Về Trang trước
Oval: Trang Tiếp Theo
Oval: Về Lại phần CâuThiNa

Trên 24 Năm chuyên trách hành Hương Phật tích Ấn Độ, Nepal