1.2 ĐẠI DIỆT ĐỘ

 

Tại Pàvà, bậc Đạo Sư và hội chúng của ngài được người thợ rèn Cunda (Thuần-đà) mời thọ thực món Sùkaramaddava. Món này đích xác là thứ ǵ vẫn chưa chắc chắn. Một vài học giả nghĩ rằng đó là thịt heo, một số khác cho là măng tre mềm mọc gần các trại heo, số khác nữa lại cho là một loại nấm, có thể là nấm mèo theo nghi thức cung kính (Chỉ 1 người dùng và tất cả phần c̣n lại phải được đem chôn cất).

Sau khi thọ trai, Đức Phật liền mắc bệnh huyết lỵ và chịu nhiều cơn đau bụng dằn vặt. Dù yếu đuối và kiệt sức như vậy, ngài vẫn rời Pàvà và tiến về Kusinàrà (Câu Thi na). Chứng đau bụng và huyết lỵ làm mất nhiều nước nên khi ngài đ̣i uống nước, và yêu cầu thị giả Ànanda cứ múc nước của vũng nước đă bị đám xe ḅ thương buôn đi qua làm vẩn đục. Nhưng lạ thay, khi nước được mang cho Đức Phật, nó lập tức trở nên trong trẻo và tinh khiết. Cũng tại đây, thiện nam Pukkusa (người học cùng thầy với Đức Phật trước khi ngài giác ngộ) thấy tấm y của bậc Đại Đạo Sư và thị giả đều vấy bẩn, ông liền bảo người hầu đem lại hai tấm y vàng kim sắc dâng cúng đức Phật và tôn giả Ànanda. (DN 16. 4. 26)

Ngay khi thiện nam Pukkusa vừa khuất dạng, hội chúng lại tiếp tục lên đường và đến sông Kakutthà, nơi đó bậc Đạo Sư uống nước, tắm rửa cùng nghỉ ngơi ở bờ bên kia, rồi ngài dặn Sa-di Cundaka trải ngoại y lên mặt đất dưới các cây xoài. Sự hiện diện của Sa-di Cundaka khiến đức Phật nhớ lại người thợ rèn Cunda, người mà tại nhà vị này Đức Phật đă phải bị ngộ độc, nên ngài nhấn mạnh cho tôn giả Ànanda hiểu là Tăng chúng không nên trách móc người thợ rèn v́ người này không cố ư làm Đức Phật bị ngộ độc mà chỉ thành tâm dâng cúng những ǵ người đó thấy quí mà thôi. (DN 16. 4. 37). Bậc Đạo Sư đă kiệt lực như vậy vẫn cùng Tăng chúng lội qua sông Hirañañavati (nay là sông Bé Gandak), đến tận Kusinàrà, thủ đô thứ hai của bộ tộc Malla.(MN 103;  AN 10. 44).

 

Khi ngài bảo ngài mỏi mệt và muốn nằm xuống, tôn giả Ànanda sắp đặt chỗ nghỉ ngơi cho ngài dưới 2 cây Sàla trong rừng Upavattana ở ven phía nam thành phố. Các cây Sàla (Shorea robusta) đang nở rộ hoa. Ngài cố gắng nghỉ ngơi, nằm nghiêng về phía bên phải, giữa hai cây Sala. Tâm trí thanh thản, ngài dặn tôn giả Ànanda về những ǵ phải làm với thân ngài. Chư Tăng không cần phải quan tâm về việc tang lễ của ngài, mà chỉ nên tinh tấn nỗ lực để giải thoát. Có nhiều người đầy tín tâm đối với đức Như Lai sẽ làm mọi sự cần thiết. (DN 16. 5. 10)

Tôn giả Ànanda vừa khóc vừa bước ra ngoài bộc lộ nỗi ưu phiền: "Ôi, ta vẫn c̣n là kẻ hữu học, ta c̣n phải tu tập nhiều (về phần ta). Thế mà nay bậc Đạo Sư, người đă thương tưởng ta, lại sắp diệt độ!".

Khi đức Phật nhận thấy thị giả trung thành của ngài không ở đó, ngài cho gọi vị ấy vào và an ủi:

"Thôi đủ rồi, này Ànanda, đừng phiền muộn khóc than. Ta đă chẳng thường bảo ông rằng chúng ta phải chia ĺa mọi vật thân thiết, khả ái đối với chúng ta, chúng ta phải từ giă chúng v́ không có vật ǵ tồn tại măi măi hay sao? Phàm vật ǵ được sanh khởi, được thành h́nh, được tạo tác (do nghiệp (kamma) của các đời trước) tất phải chịu biến hoại. Không thể nào có một vật như vậy lại không tiêu diệt. Này Ànanda, từ lâu nay ông đă ở bên cạnh ta và chăm sóc ta với ḷng nhẫn nại, từ ái, ân cần tận tụy đem lại vô lượng an lạc cho ta. Ông đă tạo được nhiều phước đức nhờ việc ấy. Hăy tinh tấn nỗ lực, chẳng bao lâu ông sẽ đoạn trừ các lậu hoặc". (DN 16. 5. 14, giản lược)

Subhaddha, một Sa-môn ngoại đạo, tối hôm ấy đến xin yết kiến bậc Đạo Sư liền bị Anan từ chối, song đức Phật nghe được câu chuyện, bèn bảo tôn giả Ànanda cho vị khách ấy vào. Khi kết thúc đàm đạo với đức Phật, du sĩ Subhaddha xuất gia theo Phật và tôn giả Ànanda làm lễ xuất gia (pabbajjà) cho vị ấy. Du sĩ Subhaddha là người cuối cùng được nhận làm Sa-di trong Giáo hội lúc đức Phật vẫn c̣n tại thế. Về sau, khi măn hạn kỳ thử thách dành cho các Sa-môn ngoại đạo, vị ấy cũng được thọ đại giới Tỳ-kheo (upasampadà) (DN 16. 5. 19).

Nhằm tránh tranh mâu thuẫn đ̣i quyền lănh đạo Giáo hội là chuyện quan trọng đối với Đức Phật v́ vậy, ngay trước khi viên tịch, ngài c̣n nhấn mạnh lần nữa chức năng hướng dẫn của Giáo Pháp đối với Tăng chúng:

"Này Ànanda, có thể một số trong chư vị suy nghĩ: lời dạy của bậc Đạo Sư đă mất, nay chúng ta không c̣n bậc Đạo Sư! Này Ànanda, không nên nghĩ như vậy. Pháp và Luật mà ta đă thuyết giảng cho chư vị, sau khi ta diệt độ, sẽ là Đạo Sư của chư vị". (DN 16. 6. 1)

Trước khi nhập diệt, Đức Phật cho các Tỳ-kheo cơ hội cuối cùng để chất vấn ngài:

"Này các Tỳ-kheo, có thể là một vài Tỳ-kheo nghi ngờ hay phân vân ǵ về Phật, Pháp, Tăng, hay (Bát Chánh) Đạo, hay phương pháp thực hành (để giải thoát). Vậy các Tỳ-kheo, hăy hỏi đi, kẻo ngày sau chư vị cảm thấy hối tiếc v́ nghĩ: "Chúng ta đă diện kiến bậc Đạo Sư, tuy thế chúng ta đă không tự ḿnh hỏi Ngài". (DN 16. 6. 5)

Song chư Tỳ-kheo giữ im lặng. Sau đó đức Phật lại cho chư vị một dịp may cuối cùng: nếu chư vị không dám hỏi v́ kính trọng ta, th́ chư vị hăy hỏi qua một bạn đồng tu. Một lần nữa chư vị Tỳ-kheo lại giữ im lặng. Đêm đă khuya lắm rồi. Cảnh vật hoàn toàn tĩnh mịch trong rừng Sàla. Khi bậc Đạo Sư sắp mệnh chung, ngài nhắn nhủ chư Tỳ-kheo một lần nữa:

 

"Này các Tỳ-kheo, ta khuyên bảo chư vị: Các pháp hữu vi (các hành: sankhàra) đều vô thường, chịu biến hoại. Hăy nỗ lực tinh tấn (để đạt giải thoát)!" (DN 16. 6. 7)

 

Đây là những lời cuối cùng của đức Phật. Sau đó ngài lịm dần vào trạng thái bất động mà tôn giả Anuruddha tuyên bố với các Tỳ-kheo là thiền định, và rồi không c̣n hồi tỉnh nữa, bậc Đạo Sư tám mươi tuổi đă đắc Niết-bàn vô dư y, một trạng thái giải thoát khổ đau sau khi xả báo thân (DN 16. 6. 8). Đa số sử gia ở Ấn Độ ghi sự kiện này vào năm 483 trước CN. 

Oval: Về Trang trước
Oval: Trang Tiếp Theo
Oval: Về Lại phần CâuThiNa

Trên 24 Năm chuyên trách hành Hương Phật tích Ấn Độ, Nepal