Dầu ngài Dharmapala thua kiện nhưng sự thua kiện đó đă làm cho Phật tử thế giới hiểu rơ được t́nh trạng nguy khốn của Bồ đề Đạo tràng, nơi tôn quí nhất của Phật tử. Bản án được đăng trên tất cả báo chí và vấn đề Bồ đề Đạo tràng trở thành một vấn đề được bàn tán ráo riết khắp Ấn Độ, Miến Điện và các nước khác. Ngài Dharmapala không đủ tiền để đưa vấn đề này các cấp cao hơn.

 

Năm 1902, một vị tu sĩ Nhật Bản tên Okakura đến Bồ đề Đạo tràng và tiếp tục sự giao thiệp với ông Mahant để lập một tu viện đại thừa độc lập tại đó. Chính phủ Ấn Độ sợ có lo sợ có ư đồ chính trị đằng sau đó nên không cho phép tiến hành và ư định này, thậm chí c̣n ảnh hưởng rất xấu đến ngài Dharmapala. Chính phủ Ấn lo sợ sự can thiệp của người Nhật nên hậu thuẫn cho ông Mahant khởi kiện lại ngài Dharmapala vào năm 1906 để trục xuất ngài ra khỏi pháp xá Miến Điện mà tổ tiên của ông Mahant đă cho phép ngài xây tịnh xá từ trước đó. Lần này, Ông Mahant lại thắng một lần nữa và ông lập tức trục xuất các tăng lữ và Phật tử Miến Điện ra khỏi tịnh xá của họ để độc chiếm Bồ đề Đạo Tràng.

 

Sau khi bị trục xuất, Ngài Dharmapala sử dụng báo chí làm phương tiện tuyên truyền để kêu gọi công chúng can thiệp. Nhờ vậy, vấn đề Bồ Đề Đạo tràng được đem ra bàn căi tại Đại hội Quốc gia Ấn Độ (Indian National Congress) họp tại Gaya, Belgaon, Coconada và các nơi khác. Vấn đề cũng được đem ra thảo luận tại hội nghị Hindumaha Sabha họp tại Muzaffapur có cả ngài Dharmapala cùng các Phật tử khác tham dự. Đảng Quốc Đại Ấn Độ cử một ủy ban do bác sĩ Rajendra Prasad làm chủ tịch để xem xét vấn đề này. Sau khi bàn xét kỹ càng, ủy ban đă đề nghị lập một hội đồng gồm các Phật tử và Ấn Độ giáo cùng quản lư ngôi tháp tại Bồ Đề Đạo Tràng. Hội nghị Maha Sabha họp tại Cawnpore cũng đề cử một ban khác do ông Bha Paramananda giữ ghế chủ tịch để nghiên cứu vấn đề và Ban này cũng đưa ra một đề nghị tương tự như ban trước. Tuy nhiên, các đề nghị đều không được thực thi hành do sự chống đối của ông Mahant.

 

Sau khi Ấn Độ được độc lập vào năm 1947, vấn đề lại được đem ra bàn căi và cuối cùng Chính Phủ Ấn Độ đứng ra can thiệp và giao quyền quản lư ngôi tháp Bồ đề Đạo Tràng cho một hội đồng gọi là Hiệp Hội Mahabodhi bao gồm 11 người:  5 người Phật giáo và 5 người Ấn giáo (ông Mahant là 1 thành viên trong 5 người Ấn giáo) và 1 vị chủ tịch do Chính phủ Ấn đề cử. Hiệp hội này là một hiệp hội mang tính cộng đồng và là cầu nối giữa Phật Giáo và Ấn Giáo. Từ đây, việc chăm lo và tu bổ Thánh địa được tiến hành thuận tiện hơn rất nhiều. Chính phủ Ấn c̣n khuyến khích các nước Phật giáo đến lập chùa xung quanh ngôi tháp ấy đề tiện cho khách thập phương chiêm bái.

 

Chủ tịch hiện giờ của Hiệp hội là ngài B.K Modi. Ngày 27/09/2008, cuộc họp gần nhất của Hiệp Hội Mahabodhi thông qua luật mới rằng: Chỉ có Phật tử bẩm sinh cha truyền con nối mới có thể trở thành lănh đạo của Hiệp Hội Mahabodhi. Ngoài ra, Đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ trở thành người đứng đầu nhóm bảo trợ cho Hiệp Hội MahaBodhi. Như vậy, chủ tịch tiếp theo của Hiệp hội sẽ là một Phật tử thuần thành do chính phủ Ấn Chỉ định và phó chủ tịch cũng là một Phật tử thuần thành được lựa chọn từ các quốc gia mà Phật Giáo là quốc giáo.

 

Chúng ta có quyền hy vọng với sự trợ giúp của Hiệp hội và nhất là oai linh của vùng đất thiêng, Bồ Đề Đạo Tràng – cái nôi của Đạo Phật sẽ sớm thực sự trở thành trung tâm Phật giáo lớn của thế giới.

 

Một số h́nh ảnh về tháp Đại Giác hiện tại

Tháp nh́n từ cổng vào

Ngôi tháp về đêm. Khách hành hương được phép viếng bái đến 9 giờ tối. Nếu muốn ở lại qua đêm, khách hành hương phải đăng kư và nộp lệ phí.

Cạnh phía Nam của Tháp. Đằng sau tháp chính là cội Bồ Đề—Nơi Phật thành đạo

Hoa Văn trên tường của Tháp

Ảnh phía sau của tháp (Cạnh phía tây).

Nơi có cây Bồ Đề linh thiêng

Tượng Phật bên trong tháp—phía chính diện

Tượng Phật bên trong tháp DO Vua Palla xứ Bengal cúng dường khoảng năm 380 sau Công Nguyên. Tượng bằng đá đen sau đó được mạ vàng vào thế kỷ 19

BỒ ĐỀ ĐẠO TRÀNG

Oval: Về Trang trước
Oval: Trang Tiếp Theo

Trên 24 Năm chuyên trách hành Hương Phật tích Ấn Độ, Nepal